Cay đắng mùi đời (Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh)
![]() |
Nhà văn Hồ Biểu Chánh |
Hồ Biểu
Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ
Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế
kỷ 20.
Ông xuất thân trong một
gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi
vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn.
Ông sáng tác văn học rất
nhiều và để lại hơn 100 tác phẩm gồm tiểu thuyết và các thể loại khác, như:
nghiên cứu, phê bình văn học, sáng tác tuồng hát cùng các bản dịch văn học cổ
điển Trung Quốc như Tình sử, Kim cổ kỳ quan... đóng góp rất nhiều cho
sự phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Tiểu thuyết của ông thuộc
về thời kỳ đầu của văn học chữ quốc ngữ, cốt truyện đơn giản, triết lý chủ
đạo là thiện thắng ác, ở hiền gặp lành, điểm đặc biệt là rất Nam Bộ, từ giọng văn
đến miêu tả con người. Ông có phóng tác một số tiểu thuyết Pháp.
Hồ Biểu Chánh sở trường về
viết văn xuôi tự sự. Đề tài phần lớn là cuộc sống Nam Bộ từ nông thôn đến thành
thị những năm đầu thế kỷ 20 với những xáo trộn xã hội do cuộc đấu tranh giữa mới
và cũ. Cách diễn đạt của ông nôm na, bình dị. Ông đã có những đóng góp to lớn
vào sự hình thành thể loại tiểu thuyết trên chặng đường phôi thai. Ông để lại một
khối lượng sáng tác không nhỏ: 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn và truyện kể,
12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu-phê
bình. Ngoài ra, còn có các bài diễn thuyết và 2 tác phẩm dịch.
(Theo Wikipedia)
***
Tiểu thuyết:
Cay đắng mùi
đời
Chương 1
Ai đi đường Chợ Lớn xuống
Gò Công hễ qua đò Bao Ngược rồi lên xe chạy ra khỏi chợ Mỹ Lợi tới khúc quanh,
thì sẽ thấy bên phía tay trái cách lộ chừng ít trăm thước có một xóm đông, kêu
là xóm Tre nhà ở chật, cái trở cửa lên, cái day cửa xuống, tre xanh kịch bao
trùm kín mít, ngoài vuông tre thì ruộng bằng trang sấp liền từ giây. Qua mùa
mưa cây đượm màu, ruộng nổi nước, thì trông ra chẳng khác nào cù lao nằm giữa
sông lớn.
Ðến nửa tháng năm trời mưa
dầm dề ngày nào cũng như ngày nấy. Chiều bữa nọ trận mưa mới tan, bóng mặt trời
chói chói phía bến đó, trong xóm nhà nhúm lửa nấu cơm chiều khói lên ngui ngút;
tre níu nhau mừng trời mát lá giũ phất phơ. Ngoài đồng náo nức nông phu; bạn
cày thá ví[1] tiếng vang vầy, công cấy hát hò hơi lảnh lót. Dưới sông Bao
Ngược ghe chài chở lúa trương buồm trôi theo dòng nước, chiếc nào chở cũng khẳm
lừ. Trên lộ Cây Dương xe ngựa đưa người núc ních chạy chậm rì, tiếng lục lạc nhỏ
khua xa xa nghe như tiếng nhái.
Dưới cuối xóm, phía mặt trời
lặn, có một cái nhà lá đã nhỏ mà lại thấp, muốn vô nhà qua cửa phải cúi đầu. Dựa
bên nhà có một cái chuồng vịt, tuy xấu nhưng mà sạch, nên không hôi cho lắm.
Trước sân thì ướt át có một đám rau đắng đất không trồng mà mọc, dường như tỏ dấu
người ở trong nhà chẳng biết ngọt bùi. Còn sau hè thì có hai hàng chuối xơ rơ,
chớ không có một bụi tre, bởi vậy ở một xóm mà khác mấy nhà trong xóm.
Trong nhà im lìm vắng vẻ,
chỉ có mấy con gà giò kiếm ăn chéo chéo dưới dàn, với một con chó vàng ốm, nằm
dựa xó cửa lim dim như buồn ngủ. Cách một lát con chó vùng đứng dậy ngoắt đuôi,
mấy con gà giật mình chớp cánh chạy vô buồng, còn ngoài bờ có một đứa trai nhỏ,
chừng tám chín tuổi, trần truồng, thủng thẳng lùa một bầy vịt vô sân, sau lưng
có một con heo đen ột ệt đi theo lấm luốc. Vô tới sân con heo đứng dựa đám rau
đắng ngoắt đuôi mà ngó vô nhà, còn đứa nhỏ thì chạy lăng xăng chận bầy vịt mà
nhốt.
Lúc thằng nhỏ đương đóng cửa
chuồng vịt thì con chó thủng thẳng bước ra ngoắt đuổi mừng, rồi liếm cẳng liếm
tay, coi như hình tiếp rước. Thằng nhỏ vỗ trên lưng con chó vài cái rồi đi lại
chỗ khạp nước để trước cửa đứng mà kêu heo: "Quắn, quắn ột! Quắn ột, ộc ột".
Con heo núc ních đi lại, thằng nhỏ mới lấy gáo múc nước trong khạp xối mà kỳ rửa
bùn đất sạch sẽ rồi lùa vô nhà.
Lo cho vịt heo xong rồi,
nó mới trở lại chỗ khạp nước nữa. Con chó chạy theo đứng xẩn bẩn bên chưn. Nó
múc nước xối tắm, con chó sợ nước đổ ướt lông nên nhảy trái chạy vô nhà đứng
ngó. Thằng nhỏ thấy vậy tức cười ngất rồi nói rằng: "Sao chạy đi? Ra đây tắm
với tao chơi mà!".
Thằng nhỏ đứng tắm mặt mày
sáng rỡ, da trắng, thịt săn, hai bàn tay ngón tròn mà dài, đầu cạo chừa khớp
tóc xuống khỏi ót, hình dạng nhắm coi thì chẳng kém chi con nhà sang giàu,
nhưng mà vì bởi trong chốn lậu hạn bần cùng, nên dầu ngọc cũng phải lu, dầu
vàng cũng mất nước.
Con chó vàng thình lình
trong nhà vụt chạy thẳng ra sân, thằng nhỏ ngó theo thì thấy ngoài bờ có một
người đàn bà xăm xăm đi vô, nó liền la lớn "má về", rồi buông gáo chạy
ra nắm tay mừng rỡ mà dắt vô. Người đàn bà nầy trạc chừng ba mươi bốn tuổi, áo
xăn ngang, ống quần vo tới đầu gối, nước da không đen không trắng, mặt tròn,
chơn mày rậm, mình thấy ướt loi ngoi, sau lưng có giắt một cây nọc cấy, trên đầu
bịt trùm khăn vải trắng, ngoài đội thêm một cái nón lá dừa, đi vô tới sân, mắt
liếc ngó chuồng vịt rồi hỏi thằng nhỏ:
- Con cho heo ăn rồi hay
chưa vậy con?
- Chưa má à! Tôi mới tắm rồi
đuổi vô nhà đó đa.
- Vịt về đủ hay không con?
- Tôi nhốt mà quên đếm.
Thằng nhỏ nói chưa dứt lời,
liền chạy lại chuồng vịt còn người đàn bà thì đi thẳng vô nhà thay áo quần. Một
lát thằng nhỏ ở ngoài nói: "Ðủ chín con, má à". Người đàn bà ở trong
buồng trả lời: "Ðược ơi! Thôi con tắm rồi bận áo kẻo lạnh lắm con".
Thằng nhỏ nói: "Tôi tắm rồi".
Mẹ con bận áo quần xong rồi
thì trời đã chạng vạng tối, ngoài bụi chuối nhái kêu chót chét, dựa xó hè dế đất
ngâm nga. Mẹ thì đi nhúm lửa rồi vo gạo nấu cơm, còn con thì lấy cám sú cho heo
ăn. Cơm chín mới đốt đèn dọn ăn, tuy có một dĩa rau với vài con cá sặt nhỏ mà mẹ
con đói bụng nên ăn ngon lành, cũng như người ta ăn chả phụng khô lân. Lúc ăn
cơm người đàn bà liếc ngó thằng nhỏ hoài, coi cặp mắt thì biết trong lòng
thương nó lắm, song chẳng hiểu vì cớ nào bữa ấy hễ ngó con rồi day mặt chỗ
khác, lại có sắc buồn. Ăn cơm rồi gài cửa tắt đèn mẹ con dắt nhau vào buồng mà
ngủ.
Người đàn bà này là Lê Thị
Thời có một người anh thứ hai tên là Lê Văn Tiết, chị ta nhằm thứ ba, nên từ
khi có chồng cho đến nay trong xóm kêu là Ba Thời. Chị ta mồ côi cha mẹ, lúc
còn nhỏ thì ở đợ cho ông cả trong làng, đến chừng được mười chín tuổi, có tên
Trần Văn Hữu ở xóm Cầu Mống, cũng con mồ côi, ở với chú mà làm ruộng, thấy chị
ta giỏi giắn mới cậy mai đi nói mà cưới. Vợ chồng ở với nhau được hai năm, người
chú mới cất cho một cái nhà lá nhỏ, tại đầu Cầu Mống đặng ra ở riêng mà làm ăn.
Tuy tên Hữu có tánh lỗ mãng, ăn nói không chừng, song vợ chồng ở với nhau cũng
thuận hòa, mướn được một mẫu ruộng rồi vợ chồng gia công mà làm, làm ruộng nhà
rồi lại đi cày cấy nhổ mạ, gặt lúa mướn cho người ta nữa, bởi vậy cho nên năm
nào trong nhà cũng có dư được năm bảy chục giạ lúa.
Vợ chồng với nhau đến năm
năm mới sanh được một đứa con gái. Thời chẳng may nên con nhỏ nuôi được bốn
tháng rồi nó chết. Vợ chồng buồn rầu thối chí, hết muốn làm ăn, mà nhứt là tên
Hữu nhớ con khóc hoài, tính trả ruộng đặng đi làm mượn, chớ không chịu lo cày cấy
nữa. Ba Thời năn nỉ khuyên lơn hết sức mà chồng không nghe lời, làm mãn mùa rồi
mới trả ruộng lại cho chủ mà đi chèo ghe mướn. Chồng đi khỏi, Ba Thời ở nhà một
mình nuôi vịt nuôi gà, đi xúc đi tát, rồi đem đổi gạo mà ăn cho qua ngày. Một
đôi tháng chồng về một lần, mà về thì thăm một ngày một buổi rồi đi, chớ không
cho vợ một cắc nào, mà coi bộ quạu quọ nữa. Có một lần tên Hữu về, Ba Thời năn
nỉ khuyên chồng ở nhà, dầu nghèo nàn cực khổ, đủ vợ chồng hủ hỉ cũng vui, tên Hữu
nổi cộc bèn nạt rằng: "Mầy không bằng lòng thôi thì lấy chồng khác đi, hay
là về ngoài anh mày mà ở đừng có nói nhiều chuyện lắm vậy". Nói rồi bận áo
bỏ ra đi nữa.
Cách sáu bảy tháng sau, Ba
Thời nghe người ta nói chồng mình đã có vợ khác bên Cần Ðước và đã dắt nhau xuống
Cần Thơ mà làm ruộng. Chị ta nghe chồng bạc bẽo thì phiền não vô cùng, vào ra
quạnh quẽ hết muốn làm ăn, sớm tối thở than khó cầm giọt lụy. Nhà một ngày một
nghèo, hai mái dột hết, không có tiền mua lá mà lợp lại, vô thưa với chú chồng
thì ông biểu: "Thằng chết vằm đó nó không thương con, thôi con bỏ nhà về
ngoài anh con mà ở, rồi con muốn lấy chồng khác thì lấy, chớ chú biết liệu làm
sao bây giờ".
Ba Thời đã sẵn ý phiền chồng,
nghe chú chồng nói xuôi xị như vậy lại càng buồn thêm nữa, nên giao nhà cho chú
chồng rồi gói áo quần trở về Xóm Tre mà nương náu với anh. Tuy chồng bạc bẽo
thì phiền, nhưng mà chị ta vẫn cũng còn thương hoài chẳng hề tính lấy chồng
khác, nên về ở với vợ chồng Lê Văn Tiết gần một năm, ngày lo làm công việc, tối
nằm mảng đợi trọng, thầm vái van cho chồng nghĩ bụng trở về, đặng cho cá nước
sum vầy, dầu cực khổ cũng cam tâm mà chờ vận. Trông đã mỏi mắt, mà chồng chẳng
thấy về, Ba Thời thối chí hết muốn làm ăn nữa.
Ba Thời ở với anh được một
năm, kế có chú Tích là người gốc ở Xóm Tre, song mấy năm nay lên Chợ Lớn làm
ăn, tuy có bà con trong họ muốn bán ruộng của ông bà lưu lại nên kêu chú về đứng
giấy. Nhơn dịp ấy chú dắt vợ con về thăm bà con trong làng, tiện bước ghé thăm
luôn hai anh em tên Tiết. Thím Tích thấy Ba Thời thì liền hỏi thăm việc chồng
con, rồi khuyên Ba Thời theo mình lên Bình Tây ở mà vá bao cho nhà máy xay lúa.
Ba Thời đương buồn chồng cuồng trí, nên nghe biểu như vậy liền nói với anh và
chị dâu mà đi. Theo thế thường, tình chị dâu em chồng chẳng mặn nồng chi cho lắm,
nhưng mà vợ tên Tiết thấy Ba Thời vô duyên bạc phận, chồng bỏ bơ vơ thì đem
lòng thương, nên không muốn để cho Ba Thời đi, mà vì bởi tên Tiết thấy em ngày
lơ lửng tối thở than, muốn cho em đi xa ít tháng đặng giải khuây, nên không nỡ
cản.
Vợ chồng chú Tích ở một
cái chòi nhỏ tại Bình Tây, thuộc phía sau nhà máy thổi. Ngoài mé sông đi dọc theo
đường hẻm dựa nhà máy, đi mút tấm vách tường nhà máy phải băng ngang qua một miếng
đất trống, mả mồ lúp xúp, cây lứt, u du mọc tàn lan, lại còn phải đi vòng theo
mé vũng rau muống biển mọc đầy, rồi mới tới nhà chú Tích. Vợ chồng ở đây làm mấy
năm cũng đủ ăn, chồng thì vác lúa, vợ thì vá bao, còn con gái, được mười lăm tuổi
tên là con Thiện, thì coi nhà nấu cơm vá áo.
Ba Thời lên với vợ chồng
chú Tích, mỗi ngày đi theo thím Tích mà vá bao, chẳng phải là vì thấy mỗi tháng
ăn uống rồi còn dư được năm ba đồng bạc mà hết buồn, thiệt là vì ở xứ lạ không
thấy người quen, mà nhứt là nhờ thím Tích hay kiếm chuyện nói cho vui nên Ba Thời
lần lần khuây lãng. Tuy vậy mà cũng chẳng có khi nào mà Ba Thời tính tới sự cải
giá, tự nguyện rằng dầu chồng chẳng tưởng mình cũng giữ cho trọn tiết với chồng.
Có đêm trời mưa rỉ rả, gió
thổi lạnh lùng, Ba Thời nằm nhớ đến chồng thì dầm dề giọt lụy, thầm tiếc rằng
chớ chi mà con còn sống, dầu chồng có bỏ, thì hủ hỉ với con, cũng còn có chỗ
vui, ngặt vì chồng đã biệt mất, mà con cũng không còn, nên mới đau đớn chốn cô
phòng hiu quạnh.
Ba Thời ở với vợ chồng chú
Tích được một năm, bữa nọ vá bao đến tối, thím Tích đi về trước còn Ba Thời mắc
qua chợ Bình Tây mua ít con khô lóc đem về ăn, nên thủng thẳng về sau. Về đến
miếng đất trống ở phía sau nhà máy, lúc ấy đã bảy giờ tối lại nhằm lúc mùng bảy
mùng tám, nên trăng không được tỏ. Ba Thời đương đi, thình lình nghe trong bụi
lứt[2] dựa gò mả có tiếng con nít khóc, Ban đầu chị ta tưởng ma nhát nên
ngực nhảy hồi hộp, mặt mày tái xanh, muốn bỏ mà chạy. Song chị ta nghĩ trời mới
tối không lẽ có ma, mà dầu có ma thiệt đi nữa, đây cũng đã gần nhà không đủ lo
sợ, nên chị ta đứng lại lóng nghe cho chắc coi thiệt phải con nít khóc hay
không.
Ba Thời đứng lóng nghe thì
tiếng khóc một hồi rồi nín. Chị ta vừa muốn bỏ đi, lại nghe khóc nữa. Chị ta mới
làm gan lần lần đi vô bụi lứt coi vì cớ nào mà có con nít khóc trong đó. Ði gần
tới thì tiếng khóc lại càng lớn hơn nữa. Chị ta vừa đi vừa phập phồng, chưn thì
bước mà mắt thì ngó chừng nhà. Tới bụi lứt thiệt quả thấy có một đứa con nít nằm
ngửa mà khóc, chung quanh có bao một cái mền tua trắng. Chị ta ngó chừng nhà
chú Tích thì thấy có đốt đèn nên trong lòng bớt sợ, bèn cặp mấy con khô vô nách
rồi thò tay đem hết cái mền và đứa nhỏ mang về.
Ba Thời bước vô nhà, vợ chồng
chú Tích thấy có bồng con nít trum trủm trước ngực thì chưng hửng, không biết bồng
con của ai. Ba Thời bèn thuật hết đầu đuôi việc mình xí được đứa nhỏ lại cho vợ
chồng chú Tích nghe, rồi mới biểu thím Tích đem đèn lại đặng có dở đứa nhỏ ra
coi bao lớn, con trai hay là con gái, có đau ốm chi hay không.
Ba Thời ngồi ghé phía đầu
ván, thím Tích thì cầm đèn, còn chú Tích với con Thiện thì đứng ngó. Ba Thời dở
mền ra thì thấy một đứa con trai, chừng năm sáu tháng, da trắng, tóc đen, môi
son, miệng rộng, cườm tay như ống chỉ, bắp chưn như củ cải, đầu đội cái mũ kết
bằng lụa màu bông phấn, mình mặc một cái áo đầm cũng bằng lụa màu bông hường, ở
truồng mà chơn có mang một đôi vớ bằng chỉ len màu lông két[3], còn cổ lại có
đeo một sợi dây chuyền vàng nhỏ. Ðứa nhỏ bị chói đèn nên nheo nheo con mắt một
hồi rồi bú tay, ngó đèn không la chi hết.
Ba Thời thấy nó trắng trẻo
ngộ nghĩnh mà chẳng bịnh hoạn thì mừng húm, liền bồng mà hun trơ hun trất rồi
nói rằng: "Con ai như vầy mà đem đi bỏ cho đành? Mình xí[4] được,
thôi, mình để nuôi chơi".
Chú Tích liền cản rằng:
"Không được đâu em! Qua coi tướng mạo áo mũ của thằng nhỏ này, qua chắc nó
là con nhà giàu, có lẽ khi họ mướn vú nuôi rồi có việc chi đó vú nó bỏ lẩy. Nếu
em giấu mà nuôi, qua sợ ngày sau lậu việc em mang tội chớ không chơi đâu".
Ba Thời nói: "Người ta bỏ mình xí được thì mình nuôi, như họ có biết, họ đến
đòi thì mình trả, chớ có tội gì... Ý! Mà tôi nghi có lẽ khi con gái nhà giàu chửa
hoang đẻ lạnh, sợ để nuôi xấu hổ, nên họ đem đi bỏ đây chớ gì. Tôi tưởng tôi
nuôi được mà, có sao đâu mà sợ".
Chú Tích nghe nói ngẫm
nghĩ một hồi, rồi khuyên Ba Thời có muốn nuôi, thì phải đi cớ cò bót hay, làm
như vậy dầu ngày sau có ai mất con họ tìm ra mối, mình mới khỏi tội. Thím Tích
cho lời của chồng nói là hữu lý, nên dọn cơm ăn rồi hối Ba Thời qua bót mà cớ.
Lúc ngồi ăn cơm, Ba Thời để
thằng nhỏ nằm một bên thì nó khóc như ác là[5]. Ba Thời thấy tội nghiệp, ngồi
ăn không ngon, liền vạch áo cho nó bú thử vú da, thì nó hết khóc mà lại nút mạnh
lắm. Thím Tích thấy vậy mới nói rằng: "Thằng nhỏ này nó khát sữa nên mới
khóc chớ gì". Ăn cơm rồi Ba Thời mượn thím Tích dỗ giùm đứa nhỏ đặng đi với
con Thiện ra quán mua hộp sữa bò về khuấy cho nó uống đỡ. Thằng nhỏ uống sữa no
nê nằm lật chơi một hồi rồi ngủ chẳng la khóc chi nữa.
Rạng ngày Ba Thời mới thức
dậy cho thằng nhỏ uống sữa no rồi, mới mượn thím Tích dắt đường đặng bồng nó
qua bót mà cớ. Chị ta thưa hết đầu đuôi việc mình xí được đứa nhỏ cho ông cò
nghe, rồi nài xin ông cò cho đứt cho mình nuôi, chớ đừng có bắt lại.
Ông cò nói không được, bời
vì ổng không biết nó là con của ai, nên ổng không dám cho phép. Ba Thời năn nỉ
hết lời, ông cò thấy vậy mới cho phép đem về nuôi song ổng dặn nếu có ai đến
nhìn, có bằng cớ đủ, thì phải trả lại cho người ta. Ba Thời nghe nói như vậy
thì dụ dự không muốn nuôi nghĩ vì mình nghèo bây giờ có nuôi thì phải mua sữa
bò mà cho bú đã thất công mà còn tốn của, nếu một ngày kia phải trả lại cho người
ta thì nuôi có ích chi đâu. Ông cò nói rằng đứa nhỏ này chắc là con nhà giàu, hễ
cha mẹ nó đến nhìn thì ông sẽ biểu cho tiền mà đền công dưỡng dục không có sao
mà sợ. Ba Thời trong lòng quyết xin đứt mà nuôi, nên dục dặc hoài, ông cò thấy
vậy mới móc túi đưa cho chị ta một đồng bạc, biểu đem về mua sữa bò cho nó bú,
mãn một tháng phải bồng nó qua bót rồi ổng sẽ liệu cho.
Ba Thời bồng về, ban đêm
thì chị ta dỗ ngủ, còn ban ngày thì mượn con Thiện ở nhà cho uống sữa săn sóc
giùm, mỗi tháng cho nó năm cắc bạc, đặng chị ta đi vá bao mà kiếm tiền. Nuôi được
ít bữa chị ta nhai cơm mà đút, tập đặng cho nó biết ăn lần lần, đêm nằm thường
vái đừng có ai đến nhìn đặng cho chị ta nuôi làm con mà hủ hỉ cho quên nỗi chồng
bạc bẽo. Trọn một tháng thằng nhỏ ăn chơi mạnh giỏi như thường, không có chún
chứn òi ọp chi hết.
Ðúng tháng Ba Thời bồng nó
qua bót trình cho ông cò xem, thì ổng nói ổng có chạy giấy ra ngoài bót cái mà
không thấy ai đến nhìn vậy như chị ta có muốn nuôi thì đem về mà nuôi, còn như
không muốn nuôi thì trả tho ổng đặng ổng gởi vô nhà mồ côi, hoặc ổng cho nhà
phước. Ba Thời tuy không chắc nuôi có bền hay không song thấy đứa nhỏ dễ thương
nên không đành rứt mà giao cho người khác, bởi vậy đứng ngẫm nghĩ một hồi rồi
xin với ông cò để cho mình nuôi. Ông cò mới viết một cái giấy, ký tên đóng con
dấu hẳn hòi, rồi đưa cho Ba Thời, biểu giữ cái giấy ấy, như ngày sau ai có nhận
thì đem tới bót rồi trình cho cò họ xem khỏi ai trành tròng được.
Ba Thời được cái giấy của
cò thì mừng rỡ vô cùng. Tối bữa ấy tính đặt tên cho thằng nhỏ mà không biết đặt
tên gì, bàn luận với vợ chồng chú Tích một hồi rồi nhứt định, mình xí được nó,
thôi đặt tên nó là thằng Ðược. Nuôi thằng nhỏ hơn một năm, nó biết đi và biết
nói chút đỉnh rồi, chẳng may chú Tích đau không mấy ngày mà chết. Thím Tích bị
chồng đau túng rối, rồi chồng chết tốn hao nữa, nên trong nhà nghèo khổ phải tính
lấy chồng khác mà nuôi tấm thân. Thím Tích có chồng rồi dắt con về ở theo chồng
ngoài chợ đũi. Ba Thời một mình bơ vơ, nên phải bồng con giang ghe trở về Xóm
Tre mà ở với anh.
Mấy năm ở Bình Tây tiện
tên để dành được ba mươi lăm đồng bạc. Lê Văn Tiết ở nhà nhờ ruộng trúng mấy
năm cũng có dư được vài ba thiên lúa, làng lại cử làm chức phó thôn, thấy em về
thì mừng rỡ, song thấy có thằng Ðược thì trong lòng sanh nghi. Ba Thời thuật việc
thình lình mà gặp thằng Ðược lại cho anh chị nghe, rồi đưa giấy của ông cò cho
anh chị coi, thì Lê Văn Tiết tin bụng em nên không hồ nghi chi nữa, nhưng mà vợ
tên Tiết với xóm giềng ai thấy thằng Ðược nay đã được mười tám mười chín tháng,
còn Ba Thời bỏ làng mà đi tính đã chẵn hai năm, thì cũng đều nghi cho Ba Thời
đã có chửa hoang bốn năm tháng, sợ ở trong làng lậu việc, nên mới kiếm cớ mà
đi, bởi vậy cho nên ai cũng xầm xì, ai cũng nói thằng Ðược là con của Ba Thời đẻ.
Ba Thời chịu tiếng nhơ lấy
làm oan ức, nhưng mà nghĩ vì lòng ngay dầu người không thấu chớ Trời Phật cũng
hay, bởi vậy chị ta giả làm tai điếc mặt ngơ, quyết nuôi thằng Ðược sớm khuya hủ
hỉ mà lấp bớt cái mạch sầu, không màng miệng mối lưỡi lằn, chi sá hơi hành giọng
tỏi. Chị ta đi thăm chú chồng thì nghe nói chồng đi biệt không thấy về; chị ta
mới mượn của anh thêm vài chục đồng bạc nữa, rồi mua cây lá cất sơ sài một cái
nhà nhỏ mà ở gần với anh.
Ba Thời ở Xóm Tre trọn bảy
năm trời, đến mùa cấy thì đi cấy, đến mùa gặt thì đi gặt, hết mùa làm ruộng thì
xúc tôm bắt cá đem bán kiếm tiền; trong nhà lại nuôi vịt, nuôi heo, nuôi đến lớn
rồi đem đi bán. Mẹ con hẩm hút, tuy là cực khổ, song cũng chẳng đói khát bữa
nào. Còn người trong xóm hồi Ba Thời mới về, thì xúm xít dị nghị nhiều lời, đến
chừng ở được đôi ba năm, việc đã nguôi ngoai, thì cũng không còn ai chê cười
chi nữa. Có người thấy chị ta tánh hiền nết tốt, lại để ý mến yêu, nên đã không
cười sự chồng đi khỏi ở nhà có con, mà lại còn kiếm cớ mà nói rằng thiệt thằng
Ðược là con nuôi, bởi vì mặt mũi tay chân chẳng giống chị ta chỗ nào hết. Thế
tình ấm lạnh nghĩ đến ngậm ngùi, khi thương dầu ngược cũng nói xuôi, lúc ghét dầu
thiệt ngọt bùi cũng cho là cay đắng.
Trót mấy năm trường, tuy
nhà nghèo cực khổ, tuy chồng bỏ buồn rầu, nhưng mà Ba Thơi hễ thấy mặt thằng Ðược
thì hớn hở vui cười, dường như thằng nhỏ này có phép chi mầu nhiệm, dầu buồn thấy
nó thì hết buồn, dầu mệt thấy nó thì quên mệt.
Hôm nay chị ta đi cấy về
ngồi ăn cơm với con sao lại ngó nó mà buồn, chừng ăn cơm rồi sao lại tắt đèn đi
ngủ liền, chẳng chuyện vãn chi hết, thằng Ðược tuy còn thơ ngây chưa hiểu việc
đời cho lắm, song nó từ nhỏ cho đến bây lớn, vào ra hôm sớm chỉ thấy có một
mình Ba Thời mà thôi, hồi nhỏ thì đút cơm rửa đít, khi đau thì ôm ấp ẵm bồng,
lúc rảnh thì đưa võng hát hò, đêm lạnh thì trùm mền hun hít, mẹ thương con, con
trìu mẹ, mẹ làm mệt thì con nói đỏ đẻ cho mẹ vui lòng, con đi thì mẹ chạy kiếm
lăng xăng sợ con dại dột. Thằng Ðược vì lòng thương mẹ nên hễ mẹ đi khỏi thì ở
nhà nó ngóng trông, chừng mẹ về thì nó chạy ra mừng, rồi lại thường liếc coi ý
mẹ buồn vui cho biết. Bữa ấy nó thấy mẹ nó không được vui thì nó cũng buồn thầm,
nó muốn hỏi coi vì cớ nào mà mẹ nó buồn, song nó nghĩ chắc là tại đi cấy mệt, rồi
lại bị trời mưa lạnh, nên biểu đi ngủ thì nó đi, nó không hỏi đến.
Thằng Ðược vào trong giường
nằm với mẹ, chẳng hề trăn trở mà mẹ cũng im lìm. Gần hết canh một mà nó cũng
chưa ngủ, trong trí có nhớ việc này tưởng việc nọ hoài, nhớ hồi xế trời mưa ở
nhà trông mẹ, rồi lại thương mẹ lạnh lùng, nhớ hồi tối đi lùa con heo về gần tới
sân gặp con rắn mối chạy ngang giựt mình giựt mẩy. Nó đương thao thức thình
lình nghe mẹ nó cất đầu lên rồi day ra ngoài giường mà hỉ mũi. Nó biết mẹ nó
chưa ngủ, song nó cứ nằm im lìm. Cách một hồi mẹ nó lại day qua ôm nó mà hun
hai ba cái, nước mắt dính ướt mặt nó, nó mới hay là mẹ nó khóc. Nó làm bộ như
ngủ, nằm nín luôn, song nó lấy làm buồn bực vô cùng, không hiểu có việc chi mà
mẹ nó lại khóc thầm như vậy.
Thằng Ðược nằm buồn một hồi
rồi ngủ quên. Ðến chừng sáng mẹ nó kêu nó thức dậy ăn cơm rồi dặn nó coi chừng
nhà đặng đi cấy. Ngày ấy nó không vui chơi, không lấy đất liệng cu xanh, không
bắt chó làm ngựa mà cỡi như mấy bữa khác. Nó cứ ngồi dựa cửa mà ngó ra ngoài ruộng
hoài, suy tới nghĩ lui coi tại sao mà mẹ buồn rầu đến nỗi đêm nằm lụy ứa, rồi lại
hỏi thầm rằng không biết tại sao mà trẻ nhỏ trong xóm như thằng Cam, con Lụa,
thằng Phát, con Tiền, đứa nào cũng có mẹ mà lại cũng có cha, còn phận mình đây
sao mình có một mẹ mà thôi, còn cha đi đâu mà thuở nay không thấy mặt. Nó nhớ tới
sự mẹ nó khóc thầm thì buồn, mà chừng nó nghĩ tới việc nó không có cha, thì
trong lòng nó lại càng áy náy, tưởng thầm rằng hay là tại không có cha nên mẹ mới
buồn rầu đây chăng.
Ðến trưa Ba Thời nghỉ cấy,
tạm về một chút mà thăm nhà, thấy con nằm chèo queo trên ván, bộ mặt buồn xo;
mà thằng Ðược liếc coi thì thấy mẹ nó cũng chẳng vui chi đó. Ba Thời dòm heo,
coi vịt, hỏi con có lấy cơm nguội mà ăn hay không rồi bỏ ra đi, chớ không hỏi
coi tại sao con không chạy đi chơi. Ðến tối trở về thay áo thay quần rồi đi nấu
cơm, thấy con cũng chẳng vui cười như trước, song cũng chẳng hỏi tới. Chừng cơm
chín dọn ra ăn, thằng Ðược ngó mẹ nó một hồi rồi hỏi rằng:
- Tại sao mà từ hôm qua đến
bữa nay má buồn dữ vậy má?
- Có giống gì đâu mà buồn.
- Có việc gì đó chớ sao lại
không có.
- Có việc gì đâu?
- Không có, sao hồi hôm má
khóc?
Ba Thời nghe hỏi tới đó
thì chưng hửng, nên ngó con rồi lặng thinh không chịu trả lời. Thằng Ðược thấy
vậy không muốn hỏi riết tới làm chi, nên và ít miếng cơm rồi kiếm chuyện khác
mà nói rằng:
- Nầy má! Thằng Cam, thằng
Phát, đứa nào nó cũng có tía nó hết, còn tía tôi là ai đâu má há?
- Tía con đi khỏi, gần về
đa.
- Ði đâu vậy má?
- Ði làm ruộng dưới Cần
Thơ.
- Tía tôi đi hồi nào đâu,
mà sao từ nhỏ tới bây giờ tôi không thấy mặt lần nào hết vậy má?
- Ði lâu lắm mà! Ði hồi mới
đẻ con ra lận.
- Sao má biết tía gần về?
- Có người ta nói.
- Ai nói đó má?
- Ai nói cũng vậy, con tra
hạch làm chi, con.
- Tía tôi như tía thằng
Cam vậy phải hôn má?
- Không. Tía con nhỏ hơn
mà cao hơn.
- Sướng a! Tía tôi về đây
tôi biểu tía tôi mua thép uốn lưỡi câu rồi tôi đi câu với tía tôi chơi. Nầy má,
hôm trước thằng Phát đi câu với tía nó, nó câu được một con cá trê lớn quá, má
à.
Ba Thời nghe con nói chừng
nào thì trong lòng càng buồn chừng nấy, nên ngồi rưng rưng nước mắt không nói
chi hết. Ăn cơm rồi mẹ con gài cửa tắt đèn đi ngủ. Ba Thời nằm im lìm, còn thằng
Ðược cũng nằm nín khe không cục cựa. Vừa hết nửa canh một, trong ngoài đều lặng
lẽ, duy có tiếng dế kêu giéo giắt với gió thổi lào xào mà thôi. Thằng Ðược nằm,
cặp mắt còn lim dim, thình lình nghe ngoài sân có tiếng người đi động đất rồi bầy
vịt trong chuồng la rộ, chó vàng trước ra sủa rân, Ba Thời miệng thì hỏi
"ai đó", tay thì kiếm hộp quẹt đặng đốt đèn. Ngoài sân có tiếng người
đáp rằng: "Tao chớ ai, mở cửa chút, có thẳng nó về đây".
Thằng Ðược nghe tiếng thì
biết tiếng cậu Hai nó là Lê Văn Tiết, lại nghe nói "có thẳng nó về
đây" tuy không biết thẳng là ai, song nó nghĩ là tía nó về, nên lật đật chạy
ra đặng thấy mặt cha một chút. Nó vừa bước ra tới bộ ván để giữa nhà thì má nó
đã mở cửa rồi. Nó đứng dựa đầu ván mà chờ thì Lê Văn Tiết ở ngoài bước vô trước,
rồi có một người lạ mặt đầu bịt một cái khăn nhiễu trắng, mình mặc quần lãnh
đen lưng xanh, áo bà ba lụa trắng dài phủ mổng trôn, tay cặp một cây dù máy cán
cong như mỏ giằng xay lúa.
Ba Thời để chong đèn trên
ván giữa, rồi qua bên cái chõng để phía tay trái mà ngồi. Lê Văn Tiết ngồi dựa
cái đèn, còn người lạ mặt ấy để cây dù trên ván rồi cũng ngồi dựa một bên đó.
Thằng Ðược đi lần lại ngồi một bên má nó, cẳng thì thò mà gãi con heo quắn nằm
dưới sàn còn mắt thì ngó người lạ mặt đó trân trân rồi day qua liếc má nó. Hai
người vô nhà rồi lặng thinh không nói chi hết, một lát Ba Thời mới hỏi người lạ
mặt ấy rằng:
- Mình về bao giờ?
- Về mấy bữa rày.
- Về mấy bữa rày ở trong
chú hay là ở đâu?
- Ở trỏng chớ ở đâu.
Hai người hỏi nhau có mấy
lời, kế Lê Văn Tiết đứng dậy mà nói rằng: "Ðể tôi về tôi lùa trâu vô chuồng.
Dượng ba nó nghỉ rồi sáng mai lại nói chuyện chơi nghe".
Lê Văn Tiết mở cửa ra về rồi,
Trần Văn Hữu với Ba Thời ngồi lặng thinh không nói chuyện chi nữa hết. Cách một
lát Ba Thời vỗ đầu thằng Ðược rồi biểu nho nhỏ rằng: "Khuya rồi, thôi đi
ngủ đi con, ngồi làm chi đó". Thằng Ðược leo xuống đất thì ngó chừng tên Hữu,
trong lòng trông coi cha có hỏi đến mình chăng, nào dè tên Hữu đã không thèm
nói tới, mà lại liếc ngó theo nó, bộ mặt hầm hầm, xem thấy phát sợ. Thằng Ðược
vừa vô khỏi cửa buồng bỗng nghe cha nó hỏi má nó rằng: "Con của mầy đó phải
không?". Ba Thời thở dài rỗi nói nho nhỏ với chồng rằng: "Ðể rồi tôi
nói hết chuyện đó cho mình nghe".
Thằng Ðược leo lên giường
nằm lặng thinh, nhắm mắt giả đò ngủ, mà trong trí nó cứ tưởng tới người lạ mặt
đó hoài, không biết người ấy có phải là cha nó hay không. Ban đầu nó chắc là phải,
bởi vì hồi chiều mẹ nó có nói cha nó gần về, mà người nầy ở đâu lạ, thuở nay nó
không biết nếu không phải là cha nó sao cậu nó đắt lại, rồi má nó kêu bằng
"mình" lại hỏi "về bao giờ". Nghĩ như vậy rồi nó lại nghĩ,
mà nếu người đó là cha nó sao coi bộ không thương nó, mà lại ngó nó lườm lườm dữ
vậy. Nó vái thầm cho người đó đừng phải là cha nó, bởi vì nó thấy nó sợ quá, nếu
có cha mà cha như vậy chi bằng không có cha, ở một mình với má như thuở nay còn
vui hơn.
Ở ngoài im lìm, một lát nó
nghe có người lấy cây gài cửa, rồi lần lần vô buồng. Nó lén mở mắt hí hí mà dòm
thì thấy má nó lấy cái gối rồi ôm đi ra ngoài nữa. Nó không hiểu vì cớ nào má
nó không vô mà ngủ còn ở ngoài cũng không nói chuyện mà thức đất đèn làm chi
cho hao dầu. Nó đương suy nghĩ như vậy liền nghe hai người nói chuyện với nhau.
Ban đầu má nó hỏi:
- Mấy năm nay mình đi làm
ăn khá hay không?
- Sao lại không khá.
- Khá sao không về bỏ tôi ở
nhà khổ hết sức vậy?
- Về làm giống gì?
- Như mình đi mình tính
không về, thì hồi đó dắt tôi đi theo, chớ sao lại bỏ tôi lưu vong ở nhà vậy.
- Mầy ở nhà sướng hỏng chết,
còn ức nổi gì?
- Mình đừng có nói vậy. Sướng
giống gì? Tôi biết hết; mình mắc dắt con vợ bé bên Cần Ðước đi với mình, nên
không chịu dắt tôi đi chớ gì.
- Ừ tao dắt vợ bé đi đa mầy
làm sao tao?
- Nói chuyện mà nghe vậy
chớ ai làm sao mình được.
- Tao đi mầy ở nhà mầy có
được một đứa con, còn ức hiếp gì nữa mà nói.
- Mình tưởng thằng nhỏ đó
là con của tôi đẻ hay sao? Trời ôi, hèn chi hổm nay tôi nghe mình về trong Cầu
Mống mà mình không chịu ra kiếm mà thăm tôi. Mình đừng có nghi như vậy mà tội
nghiệp cho cái thân tôi. Vậy chớ hổm nay mình ở trong nhà chú, chú không có nói
chuyện tôi xí được thằng nhỏ đó rồi tôi xin với ông cò đặng tôi nuôi lại cho
mình nghe hay sao? Mình bỏ tôi mình đi hơn chín năm nay, tuy mình bạc bẽo chớ
chẳng hề khi nào tôi dám phụ cái lòng mình bao giờ. Nay mình về nếu mình nghi
quấy như vậy thì uổng công tôi chờ đợi bấy lâu nay lắm.
- Tao về chú có nói chuyện
cho tao nghe đủ hết, chú nói mầy nghèo khổ nên về với anh Hai rồi sau đi theo vợ
chồng chú Tích lên Bình Tây mà làm mướn. Mầy xí được một đứa nhỏ mầy để mầy
nuôi đặng hủ hỉ giải buồn. Tao ra ngoài này thồi xế đến bây giờ tao ở đằng nhà
anh Hai, thì ảnh cũng nói y như lời của chú nói vậy, ảnh lại có đưa áo quần nón
vớ của thằng nhỏ đó cho tao coi nữa.
- Phải nhà tôi trống trải,
mà tôi lại hay bỏ nhà mà đi làm ăn, nên gởi đồ đó đằng nhà ảnh, mượn ảnh để
trong giường hộc cất giùm. Ảnh có đưa giấy của ông cò cho mình coi hay không?
- Có.
- Nếu vậy, sao mình nghi nỗi
gì?
- Không nghi sao được.
- Tại sao mình nghi, đâu
mình nói cho tôi nghe thử coi.
- Ðàn bà, chồng đi làm ăn
xa, ở nhà khi không mà có con, làm chồng ai lại không nghi.
- Tôi nói con tôi xí được
tôi để tôi nuôi chớ không phải con tôi đẻ. Trời ôi? Oan ức cho tôi biết chừng
nào.
- Thuở nay người ta có xí
được thì xí được tiền bạc, chớ có ai mà xí được con bao giờ.
- Vậy chớ chú nói mình
không đủ tin hay sao?
- Chú thương mầy, còn ghét
tao nên chú nói theo mầy, hơi nào mà tin.
- Mình nói chú binh tôi, vậy
chớ còn anh Hai đó mình cũng không tin ảnh nữa hay sao?
- Anh là anh ruột mầy chớ
phải là anh tao hay sao. Mà chú với anh Hai ở nhà còn mầy lên ở trên Bình Tây,
mầy làm giống gì mà có một đứa con đó, chú với anh Hai làm sao rõ được.
- Mắc chú Tích chú chết rồi,
thôi mình lên mình hỏi thím Tích coi. Bây giờ thím có chồng khác ở ngoài chợ
Ðũi đó...
- Thím quen với mầy chớ có
quen với tao đâu mà hỏi.
- Thiệt tức lắm! Mình nói
không phải con tôi xí được, vậy mình không coi cái giấy của ông cò đó sao.
- Giấy gì ở đâu mầy kiếm
đem về mà gạ bà con, ai có biết chữ Tây đâu mà coi.
Ba Thời nghe nói nghẹn
ngùn, ngồi khóc ngay chớ không nói chi được nữa, khóc một hồi rồi chắc lưỡi
than rằng: "Trời đất ôi! Oan ức cho tôi biết chừng nào! Xin Trời Phật soi
xét giùm cái lòng ngay của tôi, kẻo tôi chịu tiếng oan như vầy tội nghiệp lắm
mà!"
Trần Văn Hữu nằm bên ván
hút thuốc không thèm nói chi hết. Thằng Ðược còn thức nằm nín thinh trong buồng,
nghe hết đầu đuôi mọi việc, tuy nó còn thơ ngây, chưa đủ trí khôn, nên không hiểu
những lời gay gắt nghi ngờ của tên Hữu làm đau đớn lòng dạ, làm nhuốc nhơ danh
tiết của Ba Thời là dường nào, song nó biết tên Hữu không phải là cha nó thì nó
chẳng chút chi buồn, còn nó biết Ba Thời là mẹ nuôi chớ không phải là mẹ ruột,
thì trong lòng nó xốn xang bứt rứt vô cùng, không biết Ba Thời còn thương nó nữa
hay không, không biết cha ruột ở đâu, tại sao mà đẻ nó ra rồi không chịu nuôi,
lại bồng mà bỏ cho người ta xí được. Nó vừa suy nghĩ tới đó lại nghe tên Hữu tằng
hắng rồi nói rằng:
- Mầy nói tao kiếm chuyện
nói oan cho mầy, chớ thằng nhỏ đó không phải con của mầy đẻ; thôi thì mầy đuổi
nó đi đâu nó đi đi.
- Con nít mới tám chín tuổi
mình biểu đuổi nó đi, nó ra khỏi nhà biết làm giống gì cho có cơm mà ăn; làm
như vậy mình không sợ tội hay sao?
- Tám chín tuổi còn nhỏ gì
nữa. Ði ở với người ta coi gà giữ vịt mà ăn cơm không được hay sao? Như nó làm
biếng thì nó đi xin ăn, mầy tưởng nó dại nó nằm mà chịu chết đói hả?
- Nuôi nó từ hồi sáu bảy
tháng đến bây giờ mến tay mến chơn ai nỡ lòng nào mà đuổi nó đi cho đành.
- Mầy nói hông phải con của
mầy đẻ, sao mầy thương nó dữ vậy?
- Con nít của họ đàng xóm
mình thấy mình còn thương thay, huống chi là con mình nuôi.
- Nếu mầy nói đuổi nó đi
thì tội nghiệp, thôi thì kiếm người ta mà cho họ nuôi, chớ mầy để nó ở trong
nhà tao thấy ghét lắm, không biết chừng có ngày tao nổi giận đãy tao đập nó chết
đa.
- Thôi, để thủng thẳng tôi
nói với anh Hai chị Hai rồi tôi gởi nó ở đẳng.
- Tao không chịu vậy đâu.
Mầy cho ai mầy cho đứt đi đặng họ đem nó đi khuất con mắt tao, chớ mầy gởi đằng
anh Hai thì cũng như mầy để nhà đây vậy, gởi làm giống gì.
Ba Thời ngồi khóc tấm tức,
không biết tính lẽ nào, muốn cho chồng hết nghi đặng vợ chồng sum hiệp lần gỡ mối
thảm sầu, mà cũng thương thằng Ðược nên không nỡ phân ly, vì công nuôi cực nhọc.
Ba Thời khóc than rồi nói rằng:
- Thôi, để thủng thẳng rồi
tôi sẽ tính.
- Nếu mầy muốn ở đời với
tao, thì mầy phải rứt thằng nhỏ đó mới được. Còn như mầy không chịu, thôi thì
tao đi, để mầy ở nhà mà nuôi nó.
- Tôi nói thiệt nó là con
tôi xí được tôi nuôi, nên tôi mới đặt tên nó là thằng Ðược. Mình không thương
tôi mình muốn tính sao mình tính lấy.
- Té ra thằng nhỏ đó mầy đặt
tên Ðược hay sao? Mầy là một con khốn nạn thiệt. Mầy oán tao rồi mầy lấy tên
ông nội tao mà đặt tên con mầy há?
- Trời ơi. Tôi có biết tên
ông nội mình là tên gì đâu. Tôi nào có oán thù mình mà mình nói vậy. Mình hỏi
thăm họ mà coi, mình bỏ tôi mình đi mấy năm nay, tôi buồn rầu thì buồn rầu
trong lòng, chớ có khi nào mà tôi nói nặng đến mình một tiếng chi đâu.
Tên Hữu nằm lặng thinh một
hồi rồi nói rằng: "Nếu mầy thương nó mầy không nỡ đem nó mà đi cho họ,
thôi để rồi tao dắt nó tao cho họ giùm cho". Ba Thời ngồi khóc thút thít,
chẳng bao lâu thấy tên Hữu nằm nghiêng qua bên kia, gác tay ngang qua trán rồi
ngủ ngáy pho pho. Ba Thời mới bưng cái đèn đem để trên ghế mà tắt rồi nằm với
con. Thằng Ðược thấy dạng Ba Thời vô liền ôm mà nói nhỏ rằng: "Má đừng có
đuổi tôi đi nghe hôn má. Tôi thương má lắm, để tôi ở với, đừng đuổi tôi tội
nghiệp". Ba Thời day qua ôm con ừ hai ba tiếng nhỏ nhỏ rồi kề mặt mà hun,
nước mắt chảy chàm ngoàm. Mẹ con ôm nhau chặt cứng, một hồi rồi thằng Ðược ngủ
quên.
Chương 2
Tên Hữu về ở với vợ coi bộ
không tính đi đâu nữa nhưng mà cũng không tính làm công việc chi hết, ăn rồi cứ
nằm ngay mà ngủ, ngủ đã thèm thức dậy thì vác dù đi dạo xóm.
Chẳng mấy ngày mùa cấy đã
dứt, Ba Thời không biết làm việc chi, nên mỗi bữa hễ nước ròng sát rồi thì lội
xuống rạch Băng mà xúc tôm bắt cá đem về, bữa nào có ít thì để ăn, bữa nào có
dư thì sai con bưng lại đằng xóm mà bán.
Tên Hữu vài ngày thì biểu
làm thịt một con gà luộc rồi xé phay mà uống rượu, nửa tháng biểu làm thịt một
con vịt đặng nấu cháo mà ăn. Ba Thời bổn tánh hà tiện, bấy lâu nay nuôi gà nuôi
vịt thì trông cho nó lớn đặng bán lấy tiền mua gạo, chớ chẳng khi nào dám làm
thịt mà ăn bao giờ, nay chồng biểu thì xót ruột bầm gan, song vì bởi muốn làm
cho vừa ý chồng, nên biểu sao nghe vậy chớ không dám cãi. Ðã vậy mỗi lần làm gà
làm vịt tên Hữu lại đòi uống rượu, Ba Thời phải sai thằng Ðược xách ve lại quán
mà mua chịu, khi năm bảy xu, khi một cắc tên Hữu về mới hơn một tháng mà tiền
rượu và tiền thuốc hút, Ba Thời thiếu nợ đằng quán tính đã hơn bốn đồng bạc rồi.
Mà tên Hữu chẳng những là
làm tốn hao cho vợ mà thôi, lại còn làm nhọc lòng cho vợ nhiều nỗi khác nữa. Mỗi
ngày vào ra thấy mặt thằng Ðược thì kiếm chuyện rầy rà, hễ thấy nó ngồi chơi
thì chửi rủa vang rân nói rằng: "Ðồ chó, già đầu rồi mà không biết làm
công việc chi hết, thứ đồ như vậy nó chết đâu thì chết cho rảnh nuôi tốn cơm chớ
ích lợi gì", còn thấy nó làm công việc, hoặc quét nhà, hoặc cho heo ăn,
thì lại mắng nhiếc rằng: "Mầy có làm thì làm cho thiệt tình đó, chớ đừng
quẹt lọ, làm lấy có đó tao đánh mầy nát đầu đa, nói cho mầy biết". Thằng
Ðược tối ngày không dám nhích mép, hễ thấy mặt cha thì sợ sệt không dám ngó
ngay; kiếm công chuyện mà làm hoài, chớ không dám ở không, ăn cơm thì ăn sau chớ
không dám ăn chung. Còn Ba Thời tuy thương con mà không dám hở môi, vì sợ nói
ra chồng nó bắt quanh bắt quẹo rồi sanh rầy rà hơn nữa.
Chẳng có bữa nào thằng Ðược
khỏi bị bạt tay hay là khỏi nghe chửi rủa mà cũng chẳng có đêm nào Ba Thời nằm
ngủ mà chẳng khóc thầm. Ba Thời chẳng những là thấy chồng ăn ở khổ khắc với con
nên buồn rầu mà thôi, mà nhứt là thấy chồng không tính làm việc chi cứ nằm nhà
mà ăn hoài làm cho mình phải mắc nợ mắc nần thì trong lòng lo sợ hết sức.
Bữa nọ, tên Hữu ngồi ăn
cơm uống rượu coi bộ vui. Ba Thời mới mở lời hỏi thử coi chồng có tính mùa tới
kiếm ruộng đặng mướn mà làm hay là tính làm việc chi khác. Tên Hữu nghe hỏi
châu mày lặng thinh một hồi rồi đáp rằng:
- Tao bây giờ không muốn
làm ăn chi nữa hết.
- Nếu không làm thì của
đâu có mà ăn.
Tên Hữu lặng thinh không
trả lời. Ba Thời mới nói tiếp rằng:
- Mấy năm nay mình đi khỏi,
tôi ở nhà làm lắt lẻo đi cấy đi gặt, nuôi vịt nuôi heo, tuy không phải là giàu
có chi, song nhờ trời nuôi nên khỏi đói khát. Mà thiệt cũng mẹ con tôi hẩm hút,
ăn cực ở khổ, nên không tốn hao bao nhiêu, nay có mình về đó thêm một miệng ăn,
mà lại còn tốn tiền rượu trà trầu thuốc nữa; nếu mình không chịu làm việc chi hết,
thì chắc là tôi nuôi không nổi. Mình mới về hổm nay mà tôi đã mắc nợ đằng quán
hơn bốn đồng bạc rồi. Tôi không biết làm sao mà trả cho họ.
- Ối! Mầy đừng có lo mà.
- Không lo sao được. Thuở
nay tôi nghèo chớ tôi không chịu nhơ bợn của ai hết. Hồi tôi mới về cất nhà tôi
có mượn của anh Hai vài chục đồng bạc, tôi lo hết sức tôi ráng nuôi một con heo
tôi bán trả đủ cho ảnh rồi tôi mới hết lo. Từ hồi đó đến bây giờ tôi không dám
vay hỏi của ai nữa. Hổm nay tôi thiếu mấy đồng bạc đằng quán tôi lo hoài ngủ
không yên giấc.
- Mầy có con heo đó chi?
Bán con heo đó không đủ trả hay sao mà sợ?
- Tôi nuôi heo đặng bán lấy
tiền may áo quần mà mặc, chớ phải tính nuôi đặng bán mà xài hay sao?
- Mầy đừng nói lộn xộn để
đó mặc tao tính cho. Tao biết rồi, trong ý mầy thấy tao về hổm nay tốn cơn của
mầy nên mầy phiền chớ gì. Vậy chớ mầy nuôi thằng nhỏ đó sao mầy không sợ tốn.
Ba Thời thấy mình nói việc
phải quấy mà chồng không biết nghe, lại còn kiếm chuyện nói xóc lại mình như vậy
thì buồn trong lòng nên đứng dậy bỏ đi ra sau bếp ngồi mà khóc, chớ không dám
nói chi nưa.
Thằng Ðược đương đứng sau
hè cho vịt ăn, ngó vô bếp thấy má nó khóc, thì nó cũng ứa nước mắt, song không
dám vô mà an ủi. Qua bữa sau tên Hữu ăn cơm sớm mai rồi liền xách dù ra đi. Ba
Thời ở nhà mẹ con mới thong thả mà nói chuyện với nhau. Ba Thời kể hết đầu đuôi
việc mình xí được thằng Ðược lại cho nó nghe; thằng Ðược tuy còn nhỏ, nhưng mà
nuôi dưỡng tho phường lậu hạn, lam lụ, nơi chốn cơ hàn cực ăn, mặc rách đã quen
rồi, chẳng hề mơ ước điều chi hết, bởi vậy cho nên nghe Ba Thời thuật chuyện của
nó rồi thì nó tuy sợ Ba Thời không nuôi nó nữa mà thôi, chớ chẳng hề để ý tính
tìm kiếm mẹ, cha hoặc may thân được sung sướng. Ba Thời thuật chuyện rồi liếc
coi thì thấy con có sắc buồn, nên liền nói tiếp rằng: "Thuở nay mẹ không
muốn nói chuyện đó cho con nghe là vì mẹ nghĩ con nghe con buồn chớ không có
ích chi, bởi vì mẹ thương con nên dốc lòng nuôi con như con của mẹ đẻ vậy, nếu
nói ra sợ con bớt thương mẹ rồi lại sợ con nói bậy nói bạ, cha mẹ ruột có hay đến
mà nhìn con thì mẹ con ta còn ai đâu mà hủ hỉ. Nay mẹ nói ra đây là tại việc
tình cờ làm cho con đã rõ biết ngọn ngành rồi, nên mẹ không lẽ còn giấu con nữa
được. Tuy vậy mà mẹ khuyên con chớ nên buồn, ví dầu thế nào mẹ cũng thương con,
dầu ngày sau con khôn lớn có tìm được cha mẹ ruột rồi con phụ bạc mẹ đi nữa, mẹ
cũng cam tâm chớ không khi nào phiền trách".
Thằng được nghe mấy lời
thì nước mắt chảy ròng ròng, trong bụng muốn tỏ rằng dầu ngày sau mình được
giàu sang đến bực nào đi nữa cũng chẳng phụ phàng tình mẹ, song không biết nói
làm sao cho được, chỉ nói có mấy lời nầy mà thôi: "Con không bạc má đâu má
sợ. Xin má làm sao nói giùm với tía để cho con ở đây với má hoài, chớ đừng có
đuổi con tội nghiệp nghe hôn má".
Thằng Ðược nói tới đó, rồi
day mặt ngó ra ngoài đường thì thấy tên Hữu đi xóm về, lại có dắt về một chú chệt[1] nữa.
Ba Thời thấy có khách lật đật bước trái vô trong buồng, còn thằng Ðược thì sợ ở
không, cha thấy cha rầy, nên cởi quần áo rồi xách giỏ đi ra mé sông kiếm cá bống
kèo mà bắt. Nó bắt được vài chục con cá nhỏ nhỏ, đến mặt trời gần lặn mới xách
giỏ trở về. Nó đứng ngoài sân dòm vô nhà thì thấy cha đương nằm tại bộ ván giữa
mà ngủ. Nó lén đi vòng dựa hè ra phía sau xối nước mà tắm, rồi bước vô bếp thì
thấy mẹ đương ngồi khoanh tay mặt mày buồn xo: Nó hỏi thăm mới hay tía nó kêu
chệt tới hồi trưa đó là kêu coi con heo quắn đặng dứt giá mà bán.
Má nó nói chú chệt đã chịu
mua hai mươi tám đồng, hẹn đến ngày mai thì chồng bạc mà bắt heo. Thằng Ðược
tuy thương con heo quắn, nhưng mà nghe nói tía nó bán thì nó không dám nói chi
hết, lại nghe nói bán tới hai mươi tám đồng bạc, thì chắc có tiền, khỏi lại
quán mua chịu nữa, nên nó không hiểu tại sao mà má nó buồn.
Sáng ngày sau, mặt trời vừa
mới mọc thì thấy chú chệt hôm qua đó đến nhà, mà bữa nay lại có dắt theo một
người Việt Nam mập ú ở trần, tay lại có cầm một cái vòng với một cây đòn. Thằng
Ðược rình coi thì thấy chú chệt đếm giấy bạc đưa cho tía nó rồi thò vòng giựt
chưn con heo quắn trói lại khiêng đi. Chệt đi rồi tía nó đưa cho má nó một xấp
giấy bạc mà nói rằng: "Ðây này, mầy lấy mười đồng đi trả nợ trả nần gì trả
đi, còn mười tám đồng để tao cất đây cho". Má nó ngồi khóc không nói chi hết.
Từ khi bán con heo quắn rồi
thì Hữu ngày nào ăn cơm rồi cũng xách dù ra đi, chừng trở về thì mặt mày đỏ như
cắc kè lửa, hơi rượu bay nực nồng. Tên Hữu đi chơi thì thằng Ðược trong bụng mừng
thầm, còn Ba Thời thì buồn rầu không muốn nói chuyện. Thằng Ðược không hiểu vì
cớ nào mà tía nó đi chơi mà má nó lại buồn, đến đêm nọ nó nằm nghe vợ chồng rầy
lộn với nhau, Ba Thời phiền chồng bán heo lấy mười tám đồng bạc bỏ vô lưng hổm
nay cờ bạc rượu trà tiêu gần hết, chừng ấy nó mới biết tại như vậy nên má nó buồn
bực. Thằng Ðược tính thầm rằng chớ chi mà mình giàu có thì mình kiếm mua một
con heo khác cho má mình, đặng má hết buồn, để tía đi chơi, cho mình ở nhà
thong thả.
Tên Hữu về nhà ở chẵn hai
tháng làm khó cho thằng Ðược, làm rầu cho Ba Thời không biết ngần nào mà kể xiết.
Bữa nọ tên Hữu đi chơi, Ba Thời ở nhà lấy áo quần rách đem ra ngồi dựa cửa mà
vá, thằng Ðược xẩn bẩn ngồi một bên mà thỏ thẻ nói chuyện này rồi hỏi bới chuyện
khác. Trước sân gà vịt vắng teo, trong nhà chỉ còn có một con heo đen nhỏ mới
mua bằng bắp cẳng nằm lim dim dưới sàn với con chó vàng ốm bày sườn đi không muốn
bước. Ngoài đồng lúa lên xanh kịt, có mấy đám ruộng cấy lúa sớm đã lác đác trổ
bông.
Ba Thời ngồi vá áo mà mặt
thì buồn xo, thằng Ðược hỏi cực chẳng đã phải trả lời, chớ không muốn nói chuyện.
Ðến xế trời chuyển mưa, mây giăng đen kịt, gió thổi ồ ào; tên Hữu đi chơi về lại
có dắt về một ông già chừng năm mươi tuổi với một đứa con gái nhỏ chừng bảy tám
tuổi.
Thằng Ðược vừa thấy cha
thì lật đật đi vô buồng, đứng núp sau vách, rồi kề con mắt chỗ lỗ vách rách mà
ngó. Nó thấy má nó chào khách rồi dẹp đồ may đi lấy trầu cau để trên khay cho
khách ăn. Nó dòm ông già ấy thì thấy ổng mình mặc một cái áo xuyến dài cũ,
trong có áo cổ giữa trắng, dưới mặc quần lãnh đen, đầu bịt khăn be nhiễu đen,
chơi đi giày hàm ếch da láng, người vóc lớn, miệng rộng, môi dày, râu thưa mà
dài lại bạc hoa râm, trán cao, mặt dùn da mà cặp mắt lớn, đôi chưn mày rậm. Còn
con nhỏ đi theo ổng tuy nó mặc một cái áo lụa xanh cũ với một cái quần đen cũng
cũ, nhưng mà da trắng môi son, đầu xước lược cày, tóc xuống nửa lưng, mặt mày
sáng rỡ, nhắm coi chẳng kém chi mấy đứa con gái của hương chức giàu trong làng.
Thằng Ðược lại thấy ông già ấy để lại cái bao bằng vải xanh với một cây đờn trên
ván, gần chỗ ổng ngồi đó, nó biết cây đờn ấy kêu là đờn cò, song nó không hiểu
hai cái bao ấy đựng vật gì ở trỏng.
Ông già ngồi vừa yên chỗ rồi
thì tên Hữu hỏi vợ rằng: "Thằng Ðược đi đâu rồi mầy, biểu nó ra biểu chút
nào". Ba Thời chưa kịp trả lời, thì thằng Ðược trong buồng đà ríu ríu đi
ra. Nó đi vừa mới tới đầu bộ ván thì tên Hữu nói với ông khách rằng: "Thằng
nhỏ tôi đó! Nó sáng láng quá chớ, ngặt vì tôi nghèo nên không cho nó đi học được,
thì uổng biết chừng nào".
Ông già day lại ngó thằng
Ðược rồi thò tay vào túi lấy ra một cặp kiếng con mắt mà mang vô. Thằng Ðược đứng
dựa bên cái chõng mà ngó ổng, còn Ba Thời tuy đã bước vô cửa buồng rồi, song
cũng đứng lại mà ngó chừng, không hiểu ông già nầy ở đâu và có ý gì mà lại đến
coi thằng Ðược. Ban đầu chị ta nghi chồng mình tính đợ con cho ông già nầy rồi
sau chị ta nghi ông nầy mất con nên tìm đến mà nhìn. Ba Thời đang nghi nghi ngại
ngại, ông gà giơ tay ngoắt thằng Ðược mà biểu rằng: "Lại đây ông biểu
chút, con". Ba Thời nghe ổng xưng thì biết ổng không phải là cha thằng Ðược,
tính đứng nán lại mà nghe coi ổng nói chuyện gì. Tên Hữu day vô buồng thấy vợ
còn lấp ló xó cửa bèn biểu rằng: "Mầy coi nấu nước rồi bỏ trà chế cho ông
thầy ổng uống chơi".
Ba Thời quày quả đi vô bếp.
Thằng Ðược mắt ngó chừng cha, còn chơn thì đi lần lại gần ông già. Ông già mang
mắt kiềng ngó nó trân trân, tay vuốt cái chóp của nó rồi hỏi rằng: "Cháu mấy
tuổi?". Thằng Ðược nói nhỏ rằng: "Thưa tôi chín tuổi". Ông già
nghiêng tai biểu nói cho lớn một chút. Thằng Ðược phần thì sợ, phần thì đàm vướng
cổ, nên nói lớn hơn, mà nói giọng nghe đặc sệt. Tên Hữu trợn mắt biểu:
"Nói cho lớn coi nào!". Thằng Ðược tằng hắng rồi nói: "Thưa, tôi
chín tuổi".
Ông già gật đầu rồi ngó
tên Hữu mà nói rằng: "Ðược, tiếng nó tốt, hơi nó ấm mà lại dài, thằng nầy
tập ca được. Mà chú em nó nói lại chớ nói giống gì mà mắc quá vậy".
Lúc ấy Ba Thời ở trong buồng
bước ra. Tên Hữu không trả lời với ông già, lại biểu thằng Ðược rằng:
"Thôi đi vô trong cậu Hai chơi đi, chừng nào tao kêu sẽ về". Thằng Ðược
không hiểu việc gì, nghe biểu đi chơi thì vâng lời nên lật đật bước ra đi. Ba
Thời kêu lại biểu rằng: "Con vô nói với mợ Haí cho má mượn một nồi trà,
con đem về cho má rồi sẽ đi chơi nghe con". Thằng Ðược dạ một tiếng rồỉ
đâm đầu chạy tuốt.
Tên Hữu lấy chổi quét cái
ghế nghi rồi đi lấy gối bỏ trên ván mà mời ông già nằm. Ông già không nằm lại
biểu con nhỏ đi theo đó ngồi trên chõng mà chơi, rồi day qua hỏi tên Hữu:
"Sao chú em nó tính lẽ nào thì tính phứt cho rồi, đặng tôi đi cho sớm".
Tên Hữu đáp rằng: "Không phải bán chác chi mà nói giá cao giá thấp. Hồi
trưa tôi vô nhà ông Hương Lộ chơi, tình cờ gặp thầy, tôi thấy thầy ngồi đờn còn
con em đây ca theo, nhịp nhàng ăn rập nên tôi khen. Thầy nói thầy muốn kiếm
thêm một đứa con traì nữa thầy nuôi rồi dạy nó đờn ca đặng kiếm tiền cho dễ. Vợ
tôi nó có nuôi một đứa con nuôi, mà bây giờ nhà tôi nghèo, nhắm nuôi nó tốn cơm
chớ không có ích Iợi gì. Tôi nghe thầy nói như vậy nên tôi mới tính giao nó lại
cho thầy nuôi. Thầy nghĩ lại đó mà coi, vợ tôi nuôi từ hồi mới đẻ cho đến bây
giờ tốn hao cực khổ biết là bao nhiêu. Nay nó đã được chín tuổi rồi, từ rày sắp
về sau nhờ cậy nó được, vậy tôi đòi có hai chục đồng bạc có phải mắc mỏ chi
đâu".
Ông già lắc đầu rồi đáp rằng:
"Con Liên của tôi đây là con mồ côi nó ở với cô nó mà cô nó nghèo nên nuôi
nó không nổi, tôi cho có mười đồng bạc mà thôi. Nếu chú em nó muốn giao thằng
nhỏ cho tôi nuôi đặng tôi dạy học đờn học ca, thôi để tôi trả cho chú em nó
cũng mười đồng. Tôi nuôi nó bây giờ tôi phải tốn công mà dạy nó học, chớ là nhờ
nhỏi gì được đâu mà phải trả tiền mắc".
Ba Thời ra lấy bình tích
đem đi súc cho sẵn rồi thằng Ðược đem trà về có chế nước cho khách uống, bỗng
nghe hai đàng nói chuyện như vạy thì đứng chưng hửng, đợi ông già nói dứt lời
bèn hỏi chồng rằng:
- Ủa, mình tính bán thằng
Ðược hay sao mình?
- Ừ, chớ để nuôi làm gì.
- Tộì nghiệp lắm mà! Tôi
nuôi nó đã tám chín năm nay, mến tay mến chơn, mình bán cũng như mình cắt ruột
tôi vậy đa mình à.
- Con của mầy đẻ đó sao? Nếu
mầy chịu thiệt con của mầy đẻ thì tao để cho mầy nuôi, tao không bán.
Ba Thời nghe chồng nói xéo
mình thì ứa nước mắt, song vì thương con nên ráng gượng gạo kiếm cớ mà cãi rằng:
- Tôi đã có nói với mình rằng
tôi chắc thằng Ðược là con nhà giàu sang; áo mền giày nón nó mặc hồi tôi xí được
đó với mặt mũi nó bảnh bao, tay chân nó dịu nhỉu đó mình không thấy hay sao?
Bây giờ mình bán nó mình lấy hai chục đồng bạc có phải là nhiều ở đâu, chi bằng
mình để mình nuôi nó họa may ngày sau cha mẹ nó tìm mà nhìn nó mình xin một đôi
trăm đồng bạc mới khá chớ.
- Mầy cản đảm để mầy nuôi
có bữa tao dóa tao đập nó chết đây mầy mang họa đa, nói cho mầy biết. Ði coi nấu
nước uống, tao tính thế nào tại nơi ý tao, mầy không được phép nói.
Ba Thời thấy chồng trộ trạo
thì chảy nước mắt, rồi ríu ríu đi vô bếp, không dám nói chi nữa hết. Lúc hai vợ
chồng đương đôi co với nhau thì ông già kéo gối mà nằm. Tuy ổng không rõ gia đạo
của tên Hữu nhưng nghe nói đó thì ổng biết anh ta khắc thằng nhỏ lắm, nếu ổng
mua nó ổng nuôi thì chắc là tội nghiệp cho vợ tên Hữu mà cũng là làm phước giùm
cho thằng nhỏ. Chừng Ba Thời bước vô bếp ổng mới nói với tên Hữu rằng:
- Tôi coi ý thím nó trìu mến
thằng nhỏ lắm; vậy thôi chú nó để mà nuôi, giao cho tôi làm chi rồi thím nó buồn
rầu tội nghiệp.
- Không mà! Hễ tôi nhứt định
thì tôi cho, cha nó cản tôi cũng không được, lựa là nó. Chẳng giấu chi thầy,
tôi nghèo nên trôi nổi xuống Cần Thơ mà làm ruộng. Ở nhà vợ tôi lên trên Chợ Lớn
ở đậu nhà người ta mà làm mướn, cách vài năm sau nó trở về nó có bồng về một đứa
con, nó nói đứa nhỏ đó là con của họ nó xí được, nó để nó nuôi. Thầy nghĩ đó mà
coi, theo thầy vậy thầy có nghi hay không. Mấy tháng nay tôi về tôi thấy thằng
nhỏ gai con mắt nên sanh giặc trong nhà hoài, bởi vậy tôi tính kiếm người đặng
cho phứt nó đi cho rồi, thì trong nhà mới an ổn lo làm ăn được.
Ba Thời trong bếp chạy ra
nước mắt nước mũi chàm ngoàm khóc và thề rằng:
- Nếu không phải con tôi
xí được mà tôi nói dối đặng gạt mình, thì xin ông thần trong làng nầy bẻ cổ vặn
họng tôi đi.
Ông già thấy Ba Thời khóc
lóc thề thốt như vậy thì lồm cồm ngồi dậy mà can rằng:
- Thôi, hai vợ chồng cũng
chẳng nên rầy rà mà làm gì. Tôi là người ở xứ lạ tình cờ đền đây, chớ không phải
là bà con quen biết chi với hai vợ chồng. Nãy giờ tôi nằm lóng tai nghe thì tôi
đã rõ gia đạo của hai vợ chồng hết rồi. Thím em xí được con của họ bỏ rơi, thím
em nó bồng về mà nuôi phải hôn, chú em nó đi làm ăn lâu ngày về thấy khi đi thì
vợ không có nghén mà khi về vợ lại có con, nên để lòng nghi thím em nó nhà có
ngoại tình, rồi vợ chồng sằng sặc với nhau hoài. Làm đàn ông mà nghi như chú em
nó đó cũng chẳng phải lạ gì. Mà nãy giờ tôi nghe hơi thím em nó tức tối trong
lòng lắm thì tôi biết chắc thím em nó thiệt tình chớ không có gian đối. Tôi đã
trọng tuổi rồi, cũng đáng bực huynh trưởng của hai vợ chồng, tôi đến đây thấy
hai vợ chồng cắn đắng với nhau như vậy tôi cũng buồn. Vậy tôi xin thím nó vui
lòng để cho tôi nuôi giùm thằng nhỏ cho, làm như vậy chú em nó mới hết nghi, vợ
chồng mới hòa thuận mà lo làm ăn với người ta. Tôi vẫn biết thím em nó nuôi thằng
nhỏ tử hồi còn đỏ lắm lói cho đến bây giờ kể đã tám chín năm trường sao lại
không thương, bây giờ thím em nó giao cho tôi dắt đi rồi thím em nó chắc là
thương nhớ buồn rầu lắm chớ. Mà thím em nó nên nghĩ điều này: Thằng nhỏ thì mặt
mày sáng láng lắm, nếu thím em nó để mà nuôi thì bất quá một vài năm nữa thím
em nó bắt đi chăn trâu bắt đi mót lúa, rồi chừng nó lớn thì cầm cày, đánh xe
càng tộỉ nghiệp cho thân nó. Chớ còn thím em nó bằng lòng để lại cho tôi nuôi
thi tôi dạy nó học chữ, học đờn họa may ngày sau thân nó khỏi cực khổ coi có phải
là tốt hơn hay không? Chú em nó đòi hai chục đồng bạc, thôi tôi cũng chịu cho đủ
hai chục đồng bạc, tôi nuôi nó trước là làm phước giùm cho nó, sau nữa giúp cho
hai vợ chồng hòa thuận mà ở đời với nhau dầu mắc rẻ cũng chẳng nệ gì".
Tên Hữu nghe ông già chịu
trả hai chục đồng bạc thì mặt mày hơn hở, còn Ba Thời nghe lời hơn thiệt thì động
lòng nên ngồi khóc dầm dề. Chừng ông già nói dứt lời Ba Thời mới nói rằng:
- Thầy thấy thân tôi thầy
thương nên thầy tính như vậy thiệt tôi đội ơn thầy lung lắm. Ngặt vì tôi nuôi
nó đã mến tay mến chơn, nếu rứt mà giao cho thầy thì chắc tôi chết chớ chịu
không nổi.
Ông già day lại ngó ngay
Ba Thời nghiêm nghị rằng:
- Thím nói thím thương nó,
nếu thiệt thương thì phải tính làm thế nào đặng ngày sau nó trở nên một người
biết nhơn, biết nghĩa, biết hiếu, biết trung, đủ lực mà ở đời cho khỏi người ta
khinh bỉ. Chớ thương mà tính làm cho nó chăn trâu, cầm cày, cạo heo pha nước,
thương như vậy thì là cố ý làm hại cho nó chớ có phải là thiệt thương
đâu".
Ba Thời cúi đầu lặng thinh
không nói chi hết. Tên Hữu đứng dậy ăn trầu rồi nói rằng:
- Nếu nay tôi giao nó cho
thầy, thoảng nhưng ngày sau cha mẹ nó nhìn có cho tiền bạc thi ai lãnh.tiền bạc
ấy?
Ông trề môi đáp rằng:
- Ối! Tôi có cần gì tiền bạc
ấy đâu! Nếu ai có nhìn thì tôi chỉ cho họ đến nhà chú em nó rồi họ tính sao họ
tính.
Thằng Ðược tay cầm một gói
trà ở tróng nhà cậu Hai nó, nó đi về bước đến sân nó sợ rầy nên không dám vô cửa,
nó đi dọc theo hè rồi vô phía cửa sau. Ði lại bếp thì thấy siêu nước sôi hơi
lên ngui ngút, mà không có má nó ở đó, nó mới đi nhè nhẹ lại núp dựa cửa buồng
mà dòm ra ngoài. Nó thấy dạng má nó ngồi trên cái chõng gần đó, nó mới kêu nho
nhỏ: "Má, má trà đây né". Ba Thời nghe kêu liền đứng dậy đi vô bếp.
Thằng Ðược chạy theo tay đưa gói trà miệng thi nói rằng: "Mợ Hai, mở nói
mượn trà sao mượn hoài, mở biểu lại quán mua mà uống chớ mở không có trà mà cho
mượn nữa. May có cậu Hai ở nhà cẩu nghe nói cẩu rầy rồi cẩu lấy cho mượn đó
đa".
Ba Thời mở gói trà ra bỏ
vô bình rồi ngồi chồm hổm mà chế nước, không nói chi hết. Thằng Ðược thấy má nó
nước mắt nước mũi chàm ngoàm không hiểu có việc chi nên vịn vai má nó mà hỏi rằng:
"Sao má khóc vậy má? Tía rầy nữa hay sao?". Ba Thời không trả lời,
song day ngó con một cách thảm thiết lắm, rồi xách bình nước mà đi ra ngoài trước.
Thằng Ðược đứng bơ vơ buồn nghiến, ngoài hè dông gió lá đập ồ ào, rồi một lát
mưa tuôn như cầm tỉn[2] mà đổ, trời gầm như súng nổ bên tai.
Ba Thời ở ngoài bước vô sập
cái cửa sau cho khỏi mưa tạt ướt bếp. Thằng Ðược xẩn bẩn đi theo mà hỏi rằng:
"Ông già nào đó vậy má? Hồi nãy tía biểu tôi đi chơi chùng nào kêu sẽ về,
bây giờ trời mưa tôi ở nhà có được hay không má?" Ba Thời sập cửa xong rồi
liền day lại ôm con ngồi bẹp xuống đất vừa khóc vừa nói răng: "Cha con nó
bán con cho ông già đó rồi, con ôi!".
Thằng Ðược nghe nói cũng
chảy nước mắt rồi nói rằng: "Tôi không chịu đâu má. Tôi ở với má hà".
Ba Thời nghe con nói mấy lời thì đứt ruột nát gan, song cũng gắng gượng mà nói
với con rằng: "Con ôi! Con còn nhỏ dại nên con không hiểu, chớ thân má mà
nuôi con đây thiệt là thảm khổ không biết chừng nào. Mấy tháng nay tía con nó cứ
nghi cho má lấy trai nên đẻ con ra đó chớ không phải là xí được con mà nuôi, bởi
vậy cho nên nó ghét con, mà nó lại hành hài thân má hoài. Thiệt nếu má cự,
không chịu giao con cho ông già đó, thì không ai làm sao mà dắt con đi được,
song nếu má cản trở thì tía con nó nghi con là con của má đẻ, dường ấy cái danh
tiết của má còn gì, vì vậy nên má thương con mà không mở miệng ra được".
Thằng Ðược ngồi khóc một hồi
rồi đứng dậy mặt chử bự lấy vạt áo lau nước mắt và nói rằng: "Thôi má đừng
có buồn, đừng có khóc nữa. Tía có bán con thì để tía bán đặng con đi phứt cho rồi,
chớ má cản trở để con ở lại đây tía rầy rà hoài tội nghiệp má lắm. Không có sao
đâu má sợ! Con đi rồi chừng con khôn lớn con làm ăn có tiền nhiều con trở về
con cho má, con không quên má đâu".
Ba.Thời nghe con nói như vậy
lại càng tủi trong lòng hơn nữa nên kéo con ngồị xuống rồi ôm nhau mẹ con khóc
mướt. Ngoài sân trời đã hết dông nhưng mà còn mưa rỉ rả hoài không dứt hột. Tên
Hữu thấy trời gần tối mà mưa không tạnh nên cầm ông già ở lại sáng ngày sẽ đi.
Ông già tính đi qua bên Cần Ðước mà thấy ướt át nhắm đi cũng bất tiện, nên chịu
ở nán ngủ nhờ một đêm. Tên Hữu kêu vợ biểu coi nấu cơm làm gà vịt cho khách ăn.
Cơm nước xong rồi, ông già
lấy ra hai chục đồng bạc mà đưa cho vợ chồng tên Hữu, và kêu thằng Ðước ra rồi
biểu nó sửa soạn gói áo quần cho sẵn đặng thức dậy đi cho sớm.
Trời chạng vạng tối thì
mưa đã dứt hột. Ba Thời mới đi vô trong nhà người anh lấy hết áo mũ giầy mền và
sợi dây chuyền của thằng Ðược mà đem về, tính khuya đưa hết cho con rồi dặn nó
sau như cha mẹ ruột nó có nhìn thì đưa đồ ấy ra mà chiếu đối.
Ðêm ấy Ba Thờí không ngủ
được, cứ nằm trăn trở nước mắt dầm dề. Thằng Ðươc cũng tức tửi trong lòng, nghĩ
rằng còn có một đêm nay thì mình không còn ở với mẹ nữa, phải đi theo người ta
mà không biết đi đâu, nên nằm một bên mẹ mà không dám đụng mình mẹ, cứ day mặt
vô vách hoài.
Trời rạng đông gà lối xóm
gáy vang rân, ông già thức dậy quẹt hộp quẹt mà đốt đèn rồi mở cửa ra sân mà tiểu
tiện. Vợ chồng tên Hữu cũng thức dậy theo. Ông già trở vô kêu đứa con gái đi với
ổng đó: "Liên, Liên dậy con, sáng rồi dậy sửa soạn mà đi cho sớm, kẻo trưa
đi nắng lắm". Ông lại day qua biểu tên Hữu rằng: "Kêu giùm thằng nhỏ
thức dậy đặng nó đi".
Thằng Ðược đã thức dậy
đương đứng sau hè múc nước súc miệng rửa mặt, bỗng nghe tía nó kêu líền lật đật
quăng gáo chạy ra. Ông già thấy nó liền biểu: "Lấy áo quần rồi đi
con". Thằng Ðược trở vô buồng, Ba Thời mới đưa cho nó một cái áo vải trắng
với một cái quần vải trắng mới mà biểu nó mặc, rồi lại kêu nó mà dặn rằng:
"Con ôi! Má để cho con đi đây chắc là má buồn rầu má chết gấp chớ chẳng
không. Ðây né, những đồ này là đồ của con mặc trong lúc xí được con đó. Cái gói
giấy đây là sơi dây chuyền của con. Con đừng có bỏ mất mấy món đồ này nghe con,
bởi vì đồ đó là dấu tích của con nếu con bỏ mất thì sợ sau cha mẹ ruột con có
nhìn không biết lấy gì mà làm tin. Má vái chọ con mạnh giỏi ăn chơi…". Nói
tới đó Ba Thời khóc tấm tức tấm tửi nên không tiếp được nữa.
Ở ngoài, tên Hữu kêu lớn rằng:
"Ðược a, rồi chưa ra mà đi chớ, làm giống gì mà lục đục hoài ở trỏng vậy".
Ba Thời té ngồi trên giường,
tay trái thì chống giường, còn tay mặt thì lấy vạt áo tủ trên mặt mà khóc ngất.
Thằng Ðược xách gói đồ bước ra tới cửa buồng, nghe má nó khóc, nó đứng lại ngó
má nó và ứa nước mắt. Lúc ấy trời sáng mà còn mờ mờ, tên Hữu chạy vô nắm tay thằng
Ðược kéo ra ngoài, để đứng dựa bên ông già. Ông già vỗ đầu nó mà nói rằng:
"Con đi với ông, không sao đâu mà sợ". Ông già vấn thuốc hút rồi đứng
dậy biểu con nhỏ đi với ổng đó xách cây đờn, còn ổng lấy dù rồi xỏ vô hai cái
bao vải xanh mà mang trên lưng. Ổng vừa muốn từ giã mà đi thì tên Hữu hỏi thằng
Ðược rằng: "Mầy xách gói gì mà bùm sùm dữ vậy? Ðưa đây coi nào".
Tên Hữu lấy cái gói của thằng
Ðược rồi mở ra thấy có những áo mền giày mũ của nó hồi nhỏ đó liền kêu vợ mà
nói rằng: "Mầy ra, mầy đưa đồ cho nó đem theo làm gì". Nói rồi liền lấy
đồ ấy mà bỏ ra ngoài ván, thấy có gói nhỏ mở ra thấy sợi dây chuyền cũng lấy lại
nữa. Tên Hữu coi kỹ thì còn có một cái áo với một cái quần vải đen, mà hai cái
tuy chưa rách song cũng đã cũ rồi nên lật đật gói lại mà đưa cho thằng Ðược rồi
hỏi ông già rằng: "Hồi hôm thầy nói với tôi thầy qua Cần Ðước. Mà qua Cần
Ðước rồi ở đó hay là còn đi đâu? Xin nói cho tôi biết đặng sau như cha mẹ nó có
đến mà nhìn nó thì tôi biết mà kiếm thầy".
Ông già dụ dự một chút rồi
đáp rằng: "Sự ăn ở thiệt tôi chưa biết chắc ở đâu, mà không hại gì, nếu
chú em có việc muốn kiếm tôi thì qua chợ Cần Ðước hỏi thăm thầy Ðàng thì họ chỉ
cho". Nói dứt lời liền từ giã tên Hữu mà đi, và day mặt vô cửa buồng thấy
Ba Thời đứng đó thì nói rằng: "Thím em nó đừng có phiền, tôi nuôi cũng tử
tế, không sao mà sợ. Thôi tôi kiếu hai vợ chồng."
Thầy Ðàng nắm tay thằng Ðược
mà dắt đi, con nhỏ xá hai vợ chồng tên Hữu rồi xách cây đờn đi theo sau. Ra tới
sân thằng Ðược vùng vằng trì đứng lại mà kêu: "Má ôi! Má". Ba Thời chạy
ra cửa khóc rống lên nghe rất bi thảm. Tên Hữu trọn mắt ngó thằng Ðược, làm cho
nó sợ khiếp vía nên dở bước đi theo thầy Ðàng không dám kêu má nữa.
Tên Hữu đứng coi đi ra tới
đầu bờ rồi mới day lại nạt vợ rằng: "Nín đi nà! Khóc giống gì? Mầy nói
không phải con mầy đẻ sao mà khóc dữ vậy... Thứ đồ ngu! Ðồ của thằng nhỏ sao mầy
đưa cho nó chi vậy? Nếu thiệt nó là con của họ mầy xí được thì phải để đồ đó lại
đặng sau có ai họ nhìn họ mới tìm đến mình, chớ đưa hết cho nó thì mình còn bằng
cớ gì mà kể công nuôi dưỡng được". Ba Thời không trả lời, trở vô trong ván
hốt hết đồ của thằng Ðược đó mà ôm vô buồng rồi ngồi khóc rấm rứt.
Thầy Ðàng dắt thằng Ðược
ra tới đường quan lộ rồi mới buông nó ra, biểu nó đi trước, còn thầy với con nhỏ
thì đi theo sau. Thằng Ðược chơn đi mà mắt ngó lại nhà hoài, nước mắt chảy ròng
ròng không dứt, trong bụng thầm nghĩ mình bước tới một bước thì càng xa mẹ, xa
nhà thêm một khúc đường; hồi nãy nghe ông gíà nói đi qua Cần Ðước mà Cần Ðước ở
đâu? Ông già nầy là ai? Ổng mua mình đem về bắt làm việc gì? Mình có thể nào trở
về nhà má nữa hay khỏng?
Thằng Ðược trong lòng quặn
đau như dao cắt, trong trí bối rối như tơ vò, bởi vậy cho nên chơn thì đi, mắt
thì khóc, mặt thì ngó lại hoài, làm cho người đi chợ họ gặp ai cũng lấy làm kỳ,
có người biết nó kêu hỏi nó đi đâu nó cũng không nói. Ra đến chợ Mỹ Lợi thầy
Ðàng biểu hai đứa nhỏ đi thẳng lại cầu ngồi mà chờ đặng qua sông Bao Ngược. Mặt
trời ửng mọc, hướng đông chói chói đỏ lòm. Thằng Ðược đứng trên cầu ngó lại xóm
Tre thì thấy nhà má nó rõ ràng, thấy mấy bụi chuối sau hè mặt trời chói vàng
vàng, thấy cửa chống có người đứng đó nhưng ở xa nên thấy người ấy mặc đồ đen
chớ không rõ là ai, thấy con chó vàng đi nghểu nghến trưởc sân rồi đứng chong mỏ
ngó ra đường dường như tìm kiếm bạn.
Thằng Ðược đứng ngó hoài
không mỏi mắt, mà thầy Ðàng với con Liên đứng một bên thì đứng chớ cũng để cho
nó ngó, chẳng hề hỏi một tiếng chi. Chiếc đò chèo qua tới, thầy Ðàng xách đồ và
dắt hai đứa con xuống đò. Chiếc đò sớm mơi đi bảy tám người, người nầy hỏi người
kia, người kia nói chuyện với người nọ om sòm song thằng Ðược cũng không khuây
lãng cứ ngó về Xóm Tre hoài. Ðò qua tới mé sông bên kia, thằng Ðược leo lên bờ
ngó trở lại bị giàn cây án khuất không thấy Xóm Tre nữa, không biết chỗ nào là
nhà mình, rồi ngó tứ hướng thì cỏ cây lạ hoắc, chẳng có xóm nào là xóm.biết, chẳng
có nhà nào là nhà mình quen thì hồi hộp trong lòng, nên đứng khóc thúc thít. Thầy
Ðàng dưới đò bước lên vỗ vai biểu nó đi, thì nó đánh liều dơ bước đi theo chớ
bơ vơ cảnh lạ quê người, không biết đi đâu mà tính.
Chương 3
Tên Hữu về ở với vợ coi bộ
không tính đi đâu nữa nhưng mà cũng không tính làm công việc chi hết, ăn rồi cứ
nằm ngay mà ngủ, ngủ đã thèm thức dậy thì vác dù đi dạo xóm.
Chẳng mấy ngày mùa cấy đã
dứt, Ba Thời không biết làm việc chi, nên mỗi bữa hễ nước ròng sát rồi thì lội
xuống rạch Băng mà xúc tôm bắt cá đem về, bữa nào có ít thì để ăn, bữa nào có
dư thì sai con bưng lại đằng xóm mà bán.
Tên Hữu vài ngày thì biểu
làm thịt một con gà luộc rồi xé phay mà uống rượu, nửa tháng biểu làm thịt một
con vịt đặng nấu cháo mà ăn. Ba Thời bổn tánh hà tiện, bấy lâu nay nuôi gà nuôi
vịt thì trông cho nó lớn đặng bán lấy tiền mua gạo, chớ chẳng khi nào dám làm
thịt mà ăn bao giờ, nay chồng biểu thì xót ruột bầm gan, song vì bởi muốn làm
cho vừa ý chồng, nên biểu sao nghe vậy chớ không dám cãi. Ðã vậy mỗi lần làm gà
làm vịt tên Hữu lại đòi uống rượu, Ba Thời phải sai thằng Ðược xách ve lại quán
mà mua chịu, khi năm bảy xu, khi một cắc tên Hữu về mới hơn một tháng mà tiền
rượu và tiền thuốc hút, Ba Thời thiếu nợ đằng quán tính đã hơn bốn đồng bạc rồi.
Mà tên Hữu chẳng những là
làm tốn hao cho vợ mà thôi, lại còn làm nhọc lòng cho vợ nhiều nỗi khác nữa. Mỗi
ngày vào ra thấy mặt thằng Ðược thì kiếm chuyện rầy rà, hễ thấy nó ngồi chơi
thì chửi rủa vang rân nói rằng: "Ðồ chó, già đầu rồi mà không biết làm
công việc chi hết, thứ đồ như vậy nó chết đâu thì chết cho rảnh nuôi tốn cơm chớ
ích lợi gì", còn thấy nó làm công việc, hoặc quét nhà, hoặc cho heo ăn,
thì lại mắng nhiếc rằng: "Mầy có làm thì làm cho thiệt tình đó, chớ đừng
quẹt lọ, làm lấy có đó tao đánh mầy nát đầu đa, nói cho mầy biết". Thằng
Ðược tối ngày không dám nhích mép, hễ thấy mặt cha thì sợ sệt không dám ngó
ngay; kiếm công chuyện mà làm hoài, chớ không dám ở không, ăn cơm thì ăn sau chớ
không dám ăn chung. Còn Ba Thời tuy thương con mà không dám hở môi, vì sợ nói
ra chồng nó bắt quanh bắt quẹo rồi sanh rầy rà hơn nữa.
Chẳng có bữa nào thằng Ðược
khỏi bị bạt tay hay là khỏi nghe chửi rủa mà cũng chẳng có đêm nào Ba Thời nằm
ngủ mà chẳng khóc thầm. Ba Thời chẳng những là thấy chồng ăn ở khổ khắc với con
nên buồn rầu mà thôi, mà nhứt là thấy chồng không tính làm việc chi cứ nằm nhà
mà ăn hoài làm cho mình phải mắc nợ mắc nần thì trong lòng lo sợ hết sức.
Bữa nọ, tên Hữu ngồi ăn
cơm uống rượu coi bộ vui. Ba Thời mới mở lời hỏi thử coi chồng có tính mùa tới
kiếm ruộng đặng mướn mà làm hay là tính làm việc chi khác. Tên Hữu nghe hỏi
châu mày lặng thinh một hồi rồi đáp rằng:
- Tao bây giờ không muốn
làm ăn chi nữa hết.
- Nếu không làm thì của
đâu có mà ăn.
Tên Hữu lặng thinh không
trả lời. Ba Thời mới nói tiếp rằng:
- Mấy năm nay mình đi khỏi,
tôi ở nhà làm lắt lẻo đi cấy đi gặt, nuôi vịt nuôi heo, tuy không phải là giàu
có chi, song nhờ trời nuôi nên khỏi đói khát. Mà thiệt cũng mẹ con tôi hẩm hút,
ăn cực ở khổ, nên không tốn hao bao nhiêu, nay có mình về đó thêm một miệng ăn,
mà lại còn tốn tiền rượu trà trầu thuốc nữa; nếu mình không chịu làm việc chi hết,
thì chắc là tôi nuôi không nổi. Mình mới về hổm nay mà tôi đã mắc nợ đằng quán
hơn bốn đồng bạc rồi. Tôi không biết làm sao mà trả cho họ.
- Ối! Mầy đừng có lo mà.
- Không lo sao được. Thuở
nay tôi nghèo chớ tôi không chịu nhơ bợn của ai hết. Hồi tôi mới về cất nhà tôi
có mượn của anh Hai vài chục đồng bạc, tôi lo hết sức tôi ráng nuôi một con heo
tôi bán trả đủ cho ảnh rồi tôi mới hết lo. Từ hồi đó đến bây giờ tôi không dám
vay hỏi của ai nữa. Hổm nay tôi thiếu mấy đồng bạc đằng quán tôi lo hoài ngủ
không yên giấc.
- Mầy có con heo đó chi?
Bán con heo đó không đủ trả hay sao mà sợ?
- Tôi nuôi heo đặng bán lấy
tiền may áo quần mà mặc, chớ phải tính nuôi đặng bán mà xài hay sao?
- Mầy đừng nói lộn xộn để
đó mặc tao tính cho. Tao biết rồi, trong ý mầy thấy tao về hổm nay tốn cơn của
mầy nên mầy phiền chớ gì. Vậy chớ mầy nuôi thằng nhỏ đó sao mầy không sợ tốn.
Ba Thời thấy mình nói việc
phải quấy mà chồng không biết nghe, lại còn kiếm chuyện nói xóc lại mình như vậy
thì buồn trong lòng nên đứng dậy bỏ đi ra sau bếp ngồi mà khóc, chớ không dám
nói chi nưa.
Thằng Ðược đương đứng sau
hè cho vịt ăn, ngó vô bếp thấy má nó khóc, thì nó cũng ứa nước mắt, song không
dám vô mà an ủi. Qua bữa sau tên Hữu ăn cơm sớm mai rồi liền xách dù ra đi. Ba
Thời ở nhà mẹ con mới thong thả mà nói chuyện với nhau. Ba Thời kể hết đầu đuôi
việc mình xí được thằng Ðược lại cho nó nghe; thằng Ðược tuy còn nhỏ, nhưng mà
nuôi dưỡng tho phường lậu hạn, lam lụ, nơi chốn cơ hàn cực ăn, mặc rách đã quen
rồi, chẳng hề mơ ước điều chi hết, bởi vậy cho nên nghe Ba Thời thuật chuyện của
nó rồi thì nó tuy sợ Ba Thời không nuôi nó nữa mà thôi, chớ chẳng hề để ý tính
tìm kiếm mẹ, cha hoặc may thân được sung sướng. Ba Thời thuật chuyện rồi liếc
coi thì thấy con có sắc buồn, nên liền nói tiếp rằng: "Thuở nay mẹ không
muốn nói chuyện đó cho con nghe là vì mẹ nghĩ con nghe con buồn chớ không có
ích chi, bởi vì mẹ thương con nên dốc lòng nuôi con như con của mẹ đẻ vậy, nếu
nói ra sợ con bớt thương mẹ rồi lại sợ con nói bậy nói bạ, cha mẹ ruột có hay đến
mà nhìn con thì mẹ con ta còn ai đâu mà hủ hỉ. Nay mẹ nói ra đây là tại việc
tình cờ làm cho con đã rõ biết ngọn ngành rồi, nên mẹ không lẽ còn giấu con nữa
được. Tuy vậy mà mẹ khuyên con chớ nên buồn, ví dầu thế nào mẹ cũng thương con,
dầu ngày sau con khôn lớn có tìm được cha mẹ ruột rồi con phụ bạc mẹ đi nữa, mẹ
cũng cam tâm chớ không khi nào phiền trách".
Thằng được nghe mấy lời
thì nước mắt chảy ròng ròng, trong bụng muốn tỏ rằng dầu ngày sau mình được
giàu sang đến bực nào đi nữa cũng chẳng phụ phàng tình mẹ, song không biết nói
làm sao cho được, chỉ nói có mấy lời nầy mà thôi: "Con không bạc má đâu má
sợ. Xin má làm sao nói giùm với tía để cho con ở đây với má hoài, chớ đừng có
đuổi con tội nghiệp nghe hôn má".
Thằng Ðược nói tới đó, rồi
day mặt ngó ra ngoài đường thì thấy tên Hữu đi xóm về, lại có dắt về một chú chệt[1] nữa.
Ba Thời thấy có khách lật đật bước trái vô trong buồng, còn thằng Ðược thì sợ ở
không, cha thấy cha rầy, nên cởi quần áo rồi xách giỏ đi ra mé sông kiếm cá bống
kèo mà bắt. Nó bắt được vài chục con cá nhỏ nhỏ, đến mặt trời gần lặn mới xách
giỏ trở về. Nó đứng ngoài sân dòm vô nhà thì thấy cha đương nằm tại bộ ván giữa
mà ngủ. Nó lén đi vòng dựa hè ra phía sau xối nước mà tắm, rồi bước vô bếp thì
thấy mẹ đương ngồi khoanh tay mặt mày buồn xo: Nó hỏi thăm mới hay tía nó kêu
chệt tới hồi trưa đó là kêu coi con heo quắn đặng dứt giá mà bán.
Má nó nói chú chệt đã chịu
mua hai mươi tám đồng, hẹn đến ngày mai thì chồng bạc mà bắt heo. Thằng Ðược
tuy thương con heo quắn, nhưng mà nghe nói tía nó bán thì nó không dám nói chi
hết, lại nghe nói bán tới hai mươi tám đồng bạc, thì chắc có tiền, khỏi lại
quán mua chịu nữa, nên nó không hiểu tại sao mà má nó buồn.
Sáng ngày sau, mặt trời vừa
mới mọc thì thấy chú chệt hôm qua đó đến nhà, mà bữa nay lại có dắt theo một
người Việt Nam mập ú ở trần, tay lại có cầm một cái vòng với một cây đòn. Thằng
Ðược rình coi thì thấy chú chệt đếm giấy bạc đưa cho tía nó rồi thò vòng giựt
chưn con heo quắn trói lại khiêng đi. Chệt đi rồi tía nó đưa cho má nó một xấp
giấy bạc mà nói rằng: "Ðây này, mầy lấy mười đồng đi trả nợ trả nần gì trả
đi, còn mười tám đồng để tao cất đây cho". Má nó ngồi khóc không nói chi hết.
Từ khi bán con heo quắn rồi
thì Hữu ngày nào ăn cơm rồi cũng xách dù ra đi, chừng trở về thì mặt mày đỏ như
cắc kè lửa, hơi rượu bay nực nồng. Tên Hữu đi chơi thì thằng Ðược trong bụng mừng
thầm, còn Ba Thời thì buồn rầu không muốn nói chuyện. Thằng Ðược không hiểu vì
cớ nào mà tía nó đi chơi mà má nó lại buồn, đến đêm nọ nó nằm nghe vợ chồng rầy
lộn với nhau, Ba Thời phiền chồng bán heo lấy mười tám đồng bạc bỏ vô lưng hổm
nay cờ bạc rượu trà tiêu gần hết, chừng ấy nó mới biết tại như vậy nên má nó buồn
bực. Thằng Ðược tính thầm rằng chớ chi mà mình giàu có thì mình kiếm mua một
con heo khác cho má mình, đặng má hết buồn, để tía đi chơi, cho mình ở nhà
thong thả.
Tên Hữu về nhà ở chẵn hai
tháng làm khó cho thằng Ðược, làm rầu cho Ba Thời không biết ngần nào mà kể xiết.
Bữa nọ tên Hữu đi chơi, Ba Thời ở nhà lấy áo quần rách đem ra ngồi dựa cửa mà
vá, thằng Ðược xẩn bẩn ngồi một bên mà thỏ thẻ nói chuyện này rồi hỏi bới chuyện
khác. Trước sân gà vịt vắng teo, trong nhà chỉ còn có một con heo đen nhỏ mới
mua bằng bắp cẳng nằm lim dim dưới sàn với con chó vàng ốm bày sườn đi không muốn
bước. Ngoài đồng lúa lên xanh kịt, có mấy đám ruộng cấy lúa sớm đã lác đác trổ
bông.
Ba Thời ngồi vá áo mà mặt
thì buồn xo, thằng Ðược hỏi cực chẳng đã phải trả lời, chớ không muốn nói chuyện.
Ðến xế trời chuyển mưa, mây giăng đen kịt, gió thổi ồ ào; tên Hữu đi chơi về lại
có dắt về một ông già chừng năm mươi tuổi với một đứa con gái nhỏ chừng bảy tám
tuổi.
Thằng Ðược vừa thấy cha
thì lật đật đi vô buồng, đứng núp sau vách, rồi kề con mắt chỗ lỗ vách rách mà
ngó. Nó thấy má nó chào khách rồi dẹp đồ may đi lấy trầu cau để trên khay cho
khách ăn. Nó dòm ông già ấy thì thấy ổng mình mặc một cái áo xuyến dài cũ,
trong có áo cổ giữa trắng, dưới mặc quần lãnh đen, đầu bịt khăn be nhiễu đen,
chơi đi giày hàm ếch da láng, người vóc lớn, miệng rộng, môi dày, râu thưa mà
dài lại bạc hoa râm, trán cao, mặt dùn da mà cặp mắt lớn, đôi chưn mày rậm. Còn
con nhỏ đi theo ổng tuy nó mặc một cái áo lụa xanh cũ với một cái quần đen cũng
cũ, nhưng mà da trắng môi son, đầu xước lược cày, tóc xuống nửa lưng, mặt mày
sáng rỡ, nhắm coi chẳng kém chi mấy đứa con gái của hương chức giàu trong làng.
Thằng Ðược lại thấy ông già ấy để lại cái bao bằng vải xanh với một cây đờn
trên ván, gần chỗ ổng ngồi đó, nó biết cây đờn ấy kêu là đờn cò, song nó không
hiểu hai cái bao ấy đựng vật gì ở trỏng.
Ông già ngồi vừa yên chỗ rồi
thì tên Hữu hỏi vợ rằng: "Thằng Ðược đi đâu rồi mầy, biểu nó ra biểu chút
nào". Ba Thời chưa kịp trả lời, thì thằng Ðược trong buồng đà ríu ríu đi
ra. Nó đi vừa mới tới đầu bộ ván thì tên Hữu nói với ông khách rằng: "Thằng
nhỏ tôi đó! Nó sáng láng quá chớ, ngặt vì tôi nghèo nên không cho nó đi học được,
thì uổng biết chừng nào".
Ông già day lại ngó thằng
Ðược rồi thò tay vào túi lấy ra một cặp kiếng con mắt mà mang vô. Thằng Ðược đứng
dựa bên cái chõng mà ngó ổng, còn Ba Thời tuy đã bước vô cửa buồng rồi, song
cũng đứng lại mà ngó chừng, không hiểu ông già nầy ở đâu và có ý gì mà lại đến
coi thằng Ðược. Ban đầu chị ta nghi chồng mình tính đợ con cho ông già nầy rồi
sau chị ta nghi ông nầy mất con nên tìm đến mà nhìn. Ba Thời đang nghi nghi ngại
ngại, ông gà giơ tay ngoắt thằng Ðược mà biểu rằng: "Lại đây ông biểu
chút, con". Ba Thời nghe ổng xưng thì biết ổng không phải là cha thằng Ðược,
tính đứng nán lại mà nghe coi ổng nói chuyện gì. Tên Hữu day vô buồng thấy vợ
còn lấp ló xó cửa bèn biểu rằng: "Mầy coi nấu nước rồi bỏ trà chế cho ông
thầy ổng uống chơi".
Ba Thời quày quả đi vô bếp.
Thằng Ðược mắt ngó chừng cha, còn chơn thì đi lần lại gần ông già. Ông già mang
mắt kiềng ngó nó trân trân, tay vuốt cái chóp của nó rồi hỏi rằng: "Cháu mấy
tuổi?". Thằng Ðược nói nhỏ rằng: "Thưa tôi chín tuổi". Ông già
nghiêng tai biểu nói cho lớn một chút. Thằng Ðược phần thì sợ, phần thì đàm vướng
cổ, nên nói lớn hơn, mà nói giọng nghe đặc sệt. Tên Hữu trợn mắt biểu:
"Nói cho lớn coi nào!". Thằng Ðược tằng hắng rồi nói: "Thưa, tôi
chín tuổi".
Ông già gật đầu rồi ngó
tên Hữu mà nói rằng: "Ðược, tiếng nó tốt, hơi nó ấm mà lại dài, thằng nầy
tập ca được. Mà chú em nó nói lại chớ nói giống gì mà mắc quá vậy".
Lúc ấy Ba Thời ở trong buồng
bước ra. Tên Hữu không trả lời với ông già, lại biểu thằng Ðược rằng:
"Thôi đi vô trong cậu Hai chơi đi, chừng nào tao kêu sẽ về". Thằng Ðược
không hiểu việc gì, nghe biểu đi chơi thì vâng lời nên lật đật bước ra đi. Ba
Thời kêu lại biểu rằng: "Con vô nói với mợ Haí cho má mượn một nồi trà,
con đem về cho má rồi sẽ đi chơi nghe con". Thằng Ðược dạ một tiếng rồỉ
đâm đầu chạy tuốt.
Tên Hữu lấy chổi quét cái
ghế nghi rồi đi lấy gối bỏ trên ván mà mời ông già nằm. Ông già không nằm lại
biểu con nhỏ đi theo đó ngồi trên chõng mà chơi, rồi day qua hỏi tên Hữu:
"Sao chú em nó tính lẽ nào thì tính phứt cho rồi, đặng tôi đi cho sớm".
Tên Hữu đáp rằng: "Không phải bán chác chi mà nói giá cao giá thấp. Hồi
trưa tôi vô nhà ông Hương Lộ chơi, tình cờ gặp thầy, tôi thấy thầy ngồi đờn còn
con em đây ca theo, nhịp nhàng ăn rập nên tôi khen. Thầy nói thầy muốn kiếm
thêm một đứa con traì nữa thầy nuôi rồi dạy nó đờn ca đặng kiếm tiền cho dễ. Vợ
tôi nó có nuôi một đứa con nuôi, mà bây giờ nhà tôi nghèo, nhắm nuôi nó tốn cơm
chớ không có ích Iợi gì. Tôi nghe thầy nói như vậy nên tôi mới tính giao nó lại
cho thầy nuôi. Thầy nghĩ lại đó mà coi, vợ tôi nuôi từ hồi mới đẻ cho đến bây
giờ tốn hao cực khổ biết là bao nhiêu. Nay nó đã được chín tuổi rồi, từ rày sắp
về sau nhờ cậy nó được, vậy tôi đòi có hai chục đồng bạc có phải mắc mỏ chi
đâu".
Ông già lắc đầu rồi đáp rằng:
"Con Liên của tôi đây là con mồ côi nó ở với cô nó mà cô nó nghèo nên nuôi
nó không nổi, tôi cho có mười đồng bạc mà thôi. Nếu chú em nó muốn giao thằng
nhỏ cho tôi nuôi đặng tôi dạy học đờn học ca, thôi để tôi trả cho chú em nó
cũng mười đồng. Tôi nuôi nó bây giờ tôi phải tốn công mà dạy nó học, chớ là nhờ
nhỏi gì được đâu mà phải trả tiền mắc".
Ba Thời ra lấy bình tích
đem đi súc cho sẵn rồi thằng Ðược đem trà về có chế nước cho khách uống, bỗng
nghe hai đàng nói chuyện như vạy thì đứng chưng hửng, đợi ông già nói dứt lời
bèn hỏi chồng rằng:
- Ủa, mình tính bán thằng
Ðược hay sao mình?
- Ừ, chớ để nuôi làm gì.
- Tộì nghiệp lắm mà! Tôi
nuôi nó đã tám chín năm nay, mến tay mến chơn, mình bán cũng như mình cắt ruột
tôi vậy đa mình à.
- Con của mầy đẻ đó sao? Nếu
mầy chịu thiệt con của mầy đẻ thì tao để cho mầy nuôi, tao không bán.
Ba Thời nghe chồng nói xéo
mình thì ứa nước mắt, song vì thương con nên ráng gượng gạo kiếm cớ mà cãi rằng:
- Tôi đã có nói với mình rằng
tôi chắc thằng Ðược là con nhà giàu sang; áo mền giày nón nó mặc hồi tôi xí được
đó với mặt mũi nó bảnh bao, tay chân nó dịu nhỉu đó mình không thấy hay sao?
Bây giờ mình bán nó mình lấy hai chục đồng bạc có phải là nhiều ở đâu, chi bằng
mình để mình nuôi nó họa may ngày sau cha mẹ nó tìm mà nhìn nó mình xin một đôi
trăm đồng bạc mới khá chớ.
- Mầy cản đảm để mầy nuôi
có bữa tao dóa tao đập nó chết đây mầy mang họa đa, nói cho mầy biết. Ði coi nấu
nước uống, tao tính thế nào tại nơi ý tao, mầy không được phép nói.
Ba Thời thấy chồng trộ trạo
thì chảy nước mắt, rồi ríu ríu đi vô bếp, không dám nói chi nữa hết. Lúc hai vợ
chồng đương đôi co với nhau thì ông già kéo gối mà nằm. Tuy ổng không rõ gia đạo
của tên Hữu nhưng nghe nói đó thì ổng biết anh ta khắc thằng nhỏ lắm, nếu ổng
mua nó ổng nuôi thì chắc là tội nghiệp cho vợ tên Hữu mà cũng là làm phước giùm
cho thằng nhỏ. Chừng Ba Thời bước vô bếp ổng mới nói với tên Hữu rằng:
- Tôi coi ý thím nó trìu mến
thằng nhỏ lắm; vậy thôi chú nó để mà nuôi, giao cho tôi làm chi rồi thím nó buồn
rầu tội nghiệp.
- Không mà! Hễ tôi nhứt định
thì tôi cho, cha nó cản tôi cũng không được, lựa là nó. Chẳng giấu chi thầy,
tôi nghèo nên trôi nổi xuống Cần Thơ mà làm ruộng. Ở nhà vợ tôi lên trên Chợ Lớn
ở đậu nhà người ta mà làm mướn, cách vài năm sau nó trở về nó có bồng về một đứa
con, nó nói đứa nhỏ đó là con của họ nó xí được, nó để nó nuôi. Thầy nghĩ đó mà
coi, theo thầy vậy thầy có nghi hay không. Mấy tháng nay tôi về tôi thấy thằng
nhỏ gai con mắt nên sanh giặc trong nhà hoài, bởi vậy tôi tính kiếm người đặng
cho phứt nó đi cho rồi, thì trong nhà mới an ổn lo làm ăn được.
Ba Thời trong bếp chạy ra
nước mắt nước mũi chàm ngoàm khóc và thề rằng:
- Nếu không phải con tôi
xí được mà tôi nói dối đặng gạt mình, thì xin ông thần trong làng nầy bẻ cổ vặn
họng tôi đi.
Ông già thấy Ba Thời khóc
lóc thề thốt như vậy thì lồm cồm ngồi dậy mà can rằng:
- Thôi, hai vợ chồng cũng
chẳng nên rầy rà mà làm gì. Tôi là người ở xứ lạ tình cờ đền đây, chớ không phải
là bà con quen biết chi với hai vợ chồng. Nãy giờ tôi nằm lóng tai nghe thì tôi
đã rõ gia đạo của hai vợ chồng hết rồi. Thím em xí được con của họ bỏ rơi, thím
em nó bồng về mà nuôi phải hôn, chú em nó đi làm ăn lâu ngày về thấy khi đi thì
vợ không có nghén mà khi về vợ lại có con, nên để lòng nghi thím em nó nhà có
ngoại tình, rồi vợ chồng sằng sặc với nhau hoài. Làm đàn ông mà nghi như chú em
nó đó cũng chẳng phải lạ gì. Mà nãy giờ tôi nghe hơi thím em nó tức tối trong
lòng lắm thì tôi biết chắc thím em nó thiệt tình chớ không có gian đối. Tôi đã
trọng tuổi rồi, cũng đáng bực huynh trưởng của hai vợ chồng, tôi đến đây thấy
hai vợ chồng cắn đắng với nhau như vậy tôi cũng buồn. Vậy tôi xin thím nó vui
lòng để cho tôi nuôi giùm thằng nhỏ cho, làm như vậy chú em nó mới hết nghi, vợ
chồng mới hòa thuận mà lo làm ăn với người ta. Tôi vẫn biết thím em nó nuôi thằng
nhỏ tử hồi còn đỏ lắm lói cho đến bây giờ kể đã tám chín năm trường sao lại
không thương, bây giờ thím em nó giao cho tôi dắt đi rồi thím em nó chắc là
thương nhớ buồn rầu lắm chớ. Mà thím em nó nên nghĩ điều này: Thằng nhỏ thì mặt
mày sáng láng lắm, nếu thím em nó để mà nuôi thì bất quá một vài năm nữa thím
em nó bắt đi chăn trâu bắt đi mót lúa, rồi chừng nó lớn thì cầm cày, đánh xe
càng tộỉ nghiệp cho thân nó. Chớ còn thím em nó bằng lòng để lại cho tôi nuôi
thi tôi dạy nó học chữ, học đờn họa may ngày sau thân nó khỏi cực khổ coi có phải
là tốt hơn hay không? Chú em nó đòi hai chục đồng bạc, thôi tôi cũng chịu cho đủ
hai chục đồng bạc, tôi nuôi nó trước là làm phước giùm cho nó, sau nữa giúp cho
hai vợ chồng hòa thuận mà ở đời với nhau dầu mắc rẻ cũng chẳng nệ gì".
Tên Hữu nghe ông già chịu
trả hai chục đồng bạc thì mặt mày hơn hở, còn Ba Thời nghe lời hơn thiệt thì động
lòng nên ngồi khóc dầm dề. Chừng ông già nói dứt lời Ba Thời mới nói rằng:
- Thầy thấy thân tôi thầy
thương nên thầy tính như vậy thiệt tôi đội ơn thầy lung lắm. Ngặt vì tôi nuôi
nó đã mến tay mến chơn, nếu rứt mà giao cho thầy thì chắc tôi chết chớ chịu
không nổi.
Ông già day lại ngó ngay
Ba Thời nghiêm nghị rằng:
- Thím nói thím thương nó,
nếu thiệt thương thì phải tính làm thế nào đặng ngày sau nó trở nên một người
biết nhơn, biết nghĩa, biết hiếu, biết trung, đủ lực mà ở đời cho khỏi người ta
khinh bỉ. Chớ thương mà tính làm cho nó chăn trâu, cầm cày, cạo heo pha nước,
thương như vậy thì là cố ý làm hại cho nó chớ có phải là thiệt thương
đâu".
Ba Thời cúi đầu lặng thinh
không nói chi hết. Tên Hữu đứng dậy ăn trầu rồi nói rằng:
- Nếu nay tôi giao nó cho
thầy, thoảng nhưng ngày sau cha mẹ nó nhìn có cho tiền bạc thi ai lãnh.tiền bạc
ấy?
Ông trề môi đáp rằng:
- Ối! Tôi có cần gì tiền bạc
ấy đâu! Nếu ai có nhìn thì tôi chỉ cho họ đến nhà chú em nó rồi họ tính sao họ
tính.
Thằng Ðược tay cầm một gói
trà ở tróng nhà cậu Hai nó, nó đi về bước đến sân nó sợ rầy nên không dám vô cửa,
nó đi dọc theo hè rồi vô phía cửa sau. Ði lại bếp thì thấy siêu nước sôi hơi
lên ngui ngút, mà không có má nó ở đó, nó mới đi nhè nhẹ lại núp dựa cửa buồng
mà dòm ra ngoài. Nó thấy dạng má nó ngồi trên cái chõng gần đó, nó mới kêu nho
nhỏ: "Má, má trà đây né". Ba Thời nghe kêu liền đứng dậy đi vô bếp.
Thằng Ðược chạy theo tay đưa gói trà miệng thi nói rằng: "Mợ Hai, mở nói
mượn trà sao mượn hoài, mở biểu lại quán mua mà uống chớ mở không có trà mà cho
mượn nữa. May có cậu Hai ở nhà cẩu nghe nói cẩu rầy rồi cẩu lấy cho mượn đó
đa".
Ba Thời mở gói trà ra bỏ
vô bình rồi ngồi chồm hổm mà chế nước, không nói chi hết. Thằng Ðược thấy má nó
nước mắt nước mũi chàm ngoàm không hiểu có việc chi nên vịn vai má nó mà hỏi rằng:
"Sao má khóc vậy má? Tía rầy nữa hay sao?". Ba Thời không trả lời,
song day ngó con một cách thảm thiết lắm, rồi xách bình nước mà đi ra ngoài trước.
Thằng Ðược đứng bơ vơ buồn nghiến, ngoài hè dông gió lá đập ồ ào, rồi một lát
mưa tuôn như cầm tỉn[2] mà đổ, trời gầm như súng nổ bên tai.
Ba Thời ở ngoài bước vô sập
cái cửa sau cho khỏi mưa tạt ướt bếp. Thằng Ðược xẩn bẩn đi theo mà hỏi rằng:
"Ông già nào đó vậy má? Hồi nãy tía biểu tôi đi chơi chùng nào kêu sẽ về,
bây giờ trời mưa tôi ở nhà có được hay không má?" Ba Thời sập cửa xong rồi
liền day lại ôm con ngồi bẹp xuống đất vừa khóc vừa nói răng: "Cha con nó
bán con cho ông già đó rồi, con ôi!".
Thằng Ðược nghe nói cũng
chảy nước mắt rồi nói rằng: "Tôi không chịu đâu má. Tôi ở với má hà".
Ba Thời nghe con nói mấy lời thì đứt ruột nát gan, song cũng gắng gượng mà nói
với con rằng: "Con ôi! Con còn nhỏ dại nên con không hiểu, chớ thân má mà
nuôi con đây thiệt là thảm khổ không biết chừng nào. Mấy tháng nay tía con nó cứ
nghi cho má lấy trai nên đẻ con ra đó chớ không phải là xí được con mà nuôi, bởi
vậy cho nên nó ghét con, mà nó lại hành hài thân má hoài. Thiệt nếu má cự,
không chịu giao con cho ông già đó, thì không ai làm sao mà dắt con đi được,
song nếu má cản trở thì tía con nó nghi con là con của má đẻ, dường ấy cái danh
tiết của má còn gì, vì vậy nên má thương con mà không mở miệng ra được".
Thằng Ðược ngồi khóc một hồi
rồi đứng dậy mặt chử bự lấy vạt áo lau nước mắt và nói rằng: "Thôi má đừng
có buồn, đừng có khóc nữa. Tía có bán con thì để tía bán đặng con đi phứt cho rồi,
chớ má cản trở để con ở lại đây tía rầy rà hoài tội nghiệp má lắm. Không có sao
đâu má sợ! Con đi rồi chừng con khôn lớn con làm ăn có tiền nhiều con trở về
con cho má, con không quên má đâu".
Ba.Thời nghe con nói như vậy
lại càng tủi trong lòng hơn nữa nên kéo con ngồị xuống rồi ôm nhau mẹ con khóc
mướt. Ngoài sân trời đã hết dông nhưng mà còn mưa rỉ rả hoài không dứt hột. Tên
Hữu thấy trời gần tối mà mưa không tạnh nên cầm ông già ở lại sáng ngày sẽ đi.
Ông già tính đi qua bên Cần Ðước mà thấy ướt át nhắm đi cũng bất tiện, nên chịu
ở nán ngủ nhờ một đêm. Tên Hữu kêu vợ biểu coi nấu cơm làm gà vịt cho khách ăn.
Cơm nước xong rồi, ông già
lấy ra hai chục đồng bạc mà đưa cho vợ chồng tên Hữu, và kêu thằng Ðước ra rồi
biểu nó sửa soạn gói áo quần cho sẵn đặng thức dậy đi cho sớm.
Trời chạng vạng tối thì
mưa đã dứt hột. Ba Thời mới đi vô trong nhà người anh lấy hết áo mũ giầy mền và
sợi dây chuyền của thằng Ðược mà đem về, tính khuya đưa hết cho con rồi dặn nó
sau như cha mẹ ruột nó có nhìn thì đưa đồ ấy ra mà chiếu đối.
Ðêm ấy Ba Thờí không ngủ
được, cứ nằm trăn trở nước mắt dầm dề. Thằng Ðươc cũng tức tửi trong lòng, nghĩ
rằng còn có một đêm nay thì mình không còn ở với mẹ nữa, phải đi theo người ta
mà không biết đi đâu, nên nằm một bên mẹ mà không dám đụng mình mẹ, cứ day mặt
vô vách hoài.
Trời rạng đông gà lối xóm
gáy vang rân, ông già thức dậy quẹt hộp quẹt mà đốt đèn rồi mở cửa ra sân mà tiểu
tiện. Vợ chồng tên Hữu cũng thức dậy theo. Ông già trở vô kêu đứa con gái đi với
ổng đó: "Liên, Liên dậy con, sáng rồi dậy sửa soạn mà đi cho sớm, kẻo trưa
đi nắng lắm". Ông lại day qua biểu tên Hữu rằng: "Kêu giùm thằng nhỏ
thức dậy đặng nó đi".
Thằng Ðược đã thức dậy
đương đứng sau hè múc nước súc miệng rửa mặt, bỗng nghe tía nó kêu líền lật đật
quăng gáo chạy ra. Ông già thấy nó liền biểu: "Lấy áo quần rồi đi
con". Thằng Ðược trở vô buồng, Ba Thời mới đưa cho nó một cái áo vải trắng
với một cái quần vải trắng mới mà biểu nó mặc, rồi lại kêu nó mà dặn rằng:
"Con ôi! Má để cho con đi đây chắc là má buồn rầu má chết gấp chớ chẳng
không. Ðây né, những đồ này là đồ của con mặc trong lúc xí được con đó. Cái gói
giấy đây là sơi dây chuyền của con. Con đừng có bỏ mất mấy món đồ này nghe con,
bởi vì đồ đó là dấu tích của con nếu con bỏ mất thì sợ sau cha mẹ ruột con có
nhìn không biết lấy gì mà làm tin. Má vái chọ con mạnh giỏi ăn chơi…". Nói
tới đó Ba Thời khóc tấm tức tấm tửi nên không tiếp được nữa.
Ở ngoài, tên Hữu kêu lớn rằng:
"Ðược a, rồi chưa ra mà đi chớ, làm giống gì mà lục đục hoài ở trỏng vậy".
Ba Thời té ngồi trên giường,
tay trái thì chống giường, còn tay mặt thì lấy vạt áo tủ trên mặt mà khóc ngất.
Thằng Ðược xách gói đồ bước ra tới cửa buồng, nghe má nó khóc, nó đứng lại ngó
má nó và ứa nước mắt. Lúc ấy trời sáng mà còn mờ mờ, tên Hữu chạy vô nắm tay thằng
Ðược kéo ra ngoài, để đứng dựa bên ông già. Ông già vỗ đầu nó mà nói rằng:
"Con đi với ông, không sao đâu mà sợ". Ông già vấn thuốc hút rồi đứng
dậy biểu con nhỏ đi với ổng đó xách cây đờn, còn ổng lấy dù rồi xỏ vô hai cái
bao vải xanh mà mang trên lưng. Ổng vừa muốn từ giã mà đi thì tên Hữu hỏi thằng
Ðược rằng: "Mầy xách gói gì mà bùm sùm dữ vậy? Ðưa đây coi nào".
Tên Hữu lấy cái gói của thằng
Ðược rồi mở ra thấy có những áo mền giày mũ của nó hồi nhỏ đó liền kêu vợ mà
nói rằng: "Mầy ra, mầy đưa đồ cho nó đem theo làm gì". Nói rồi liền lấy
đồ ấy mà bỏ ra ngoài ván, thấy có gói nhỏ mở ra thấy sợi dây chuyền cũng lấy lại
nữa. Tên Hữu coi kỹ thì còn có một cái áo với một cái quần vải đen, mà hai cái
tuy chưa rách song cũng đã cũ rồi nên lật đật gói lại mà đưa cho thằng Ðược rồi
hỏi ông già rằng: "Hồi hôm thầy nói với tôi thầy qua Cần Ðước. Mà qua Cần
Ðước rồi ở đó hay là còn đi đâu? Xin nói cho tôi biết đặng sau như cha mẹ nó có
đến mà nhìn nó thì tôi biết mà kiếm thầy".
Ông già dụ dự một chút rồi
đáp rằng: "Sự ăn ở thiệt tôi chưa biết chắc ở đâu, mà không hại gì, nếu
chú em có việc muốn kiếm tôi thì qua chợ Cần Ðước hỏi thăm thầy Ðàng thì họ chỉ
cho". Nói dứt lời liền từ giã tên Hữu mà đi, và day mặt vô cửa buồng thấy
Ba Thời đứng đó thì nói rằng: "Thím em nó đừng có phiền, tôi nuôi cũng tử
tế, không sao mà sợ. Thôi tôi kiếu hai vợ chồng."
Thầy Ðàng nắm tay thằng Ðược
mà dắt đi, con nhỏ xá hai vợ chồng tên Hữu rồi xách cây đờn đi theo sau. Ra tới
sân thằng Ðược vùng vằng trì đứng lại mà kêu: "Má ôi! Má". Ba Thời chạy
ra cửa khóc rống lên nghe rất bi thảm. Tên Hữu trọn mắt ngó thằng Ðược, làm cho
nó sợ khiếp vía nên dở bước đi theo thầy Ðàng không dám kêu má nữa.
Tên Hữu đứng coi đi ra tới
đầu bờ rồi mới day lại nạt vợ rằng: "Nín đi nà! Khóc giống gì? Mầy nói
không phải con mầy đẻ sao mà khóc dữ vậy... Thứ đồ ngu! Ðồ của thằng nhỏ sao mầy
đưa cho nó chi vậy? Nếu thiệt nó là con của họ mầy xí được thì phải để đồ đó lại
đặng sau có ai họ nhìn họ mới tìm đến mình, chớ đưa hết cho nó thì mình còn bằng
cớ gì mà kể công nuôi dưỡng được". Ba Thời không trả lời, trở vô trong ván
hốt hết đồ của thằng Ðược đó mà ôm vô buồng rồi ngồi khóc rấm rứt.
Thầy Ðàng dắt thằng Ðược
ra tới đường quan lộ rồi mới buông nó ra, biểu nó đi trước, còn thầy với con nhỏ
thì đi theo sau. Thằng Ðược chơn đi mà mắt ngó lại nhà hoài, nước mắt chảy ròng
ròng không dứt, trong bụng thầm nghĩ mình bước tới một bước thì càng xa mẹ, xa
nhà thêm một khúc đường; hồi nãy nghe ông gíà nói đi qua Cần Ðước mà Cần Ðước ở
đâu? Ông già nầy là ai? Ổng mua mình đem về bắt làm việc gì? Mình có thể nào trở
về nhà má nữa hay khỏng?
Thằng Ðược trong lòng quặn
đau như dao cắt, trong trí bối rối như tơ vò, bởi vậy cho nên chơn thì đi, mắt
thì khóc, mặt thì ngó lại hoài, làm cho người đi chợ họ gặp ai cũng lấy làm kỳ,
có người biết nó kêu hỏi nó đi đâu nó cũng không nói. Ra đến chợ Mỹ Lợi thầy
Ðàng biểu hai đứa nhỏ đi thẳng lại cầu ngồi mà chờ đặng qua sông Bao Ngược. Mặt
trời ửng mọc, hướng đông chói chói đỏ lòm. Thằng Ðược đứng trên cầu ngó lại xóm
Tre thì thấy nhà má nó rõ ràng, thấy mấy bụi chuối sau hè mặt trời chói vàng
vàng, thấy cửa chống có người đứng đó nhưng ở xa nên thấy người ấy mặc đồ đen
chớ không rõ là ai, thấy con chó vàng đi nghểu nghến trưởc sân rồi đứng chong mỏ
ngó ra đường dường như tìm kiếm bạn.
Thằng Ðược đứng ngó hoài
không mỏi mắt, mà thầy Ðàng với con Liên đứng một bên thì đứng chớ cũng để cho
nó ngó, chẳng hề hỏi một tiếng chi. Chiếc đò chèo qua tới, thầy Ðàng xách đồ và
dắt hai đứa con xuống đò. Chiếc đò sớm mơi đi bảy tám người, người nầy hỏi người
kia, người kia nói chuyện với người nọ om sòm song thằng Ðược cũng không khuây
lãng cứ ngó về Xóm Tre hoài. Ðò qua tới mé sông bên kia, thằng Ðược leo lên bờ
ngó trở lại bị giàn cây án khuất không thấy Xóm Tre nữa, không biết chỗ nào là nhà
mình, rồi ngó tứ hướng thì cỏ cây lạ hoắc, chẳng có xóm nào là xóm.biết, chẳng
có nhà nào là nhà mình quen thì hồi hộp trong lòng, nên đứng khóc thúc thít. Thầy
Ðàng dưới đò bước lên vỗ vai biểu nó đi, thì nó đánh liều dơ bước đi theo chớ
bơ vơ cảnh lạ quê người, không biết đi đâu mà tính.
Chương 3
Thầy Ðàng tên thật là Trần
Cao Ðàng, người gốc sanh đẻ tại xứ Cần Ðước, lúc còn nhỏ trong nhà cha mẹ nghèo
lắm, cơm ăn không no, áo mặc không lành. Khi ấy nhà nước mở lập trường mà học
chữ quốc ngữ với chữ Tây, nhà giàu không ai chịu cho con đi học. Nhà nước mới tống
trát cho các làng dạy phải cấp học trò. Hương chức trong làng sợ quan quở phạt
nên năn nỉ với ông thân của Ðàng để cho Ðàng đi học, hương chức với nhà giàu
chung đậu với nhau mà chịu tiền cơm bánh áo quần, lại còn cấp dưỡng cho cha mẹ
nhà ở được no ấm nữa. Thầy Ðàng nhờ có như vậy nên mới đi học được.
Học hơn mười năm quan bổ
làm thầy giáo dạy tại trường Sài Gòn. Dạy học được vài năm gặp dịp quan Tham biện
Chợ Lớn cần dùng một thầy thông ngôn, thầy Ðàng mới xin thôi ngạch thầy giáo rồi
xin cấp bằng làm thông ngôn. Quan Tham biện thấy thầy giỏi giắn bặt thiệp thì
đem lòng yêu thầy; bởi vậy cho nên thầy đứng thông ngôn nhà thầy tổng làng tới
lui nườm nượp. Thầy rước cha mẹ về ở chung với thầy, còn đứa em gái của thầy
tên là Ba Sự thì cha mẹ thầy đã gả cho người ở trong làng tên là Phan Hảo Tâm.
Thầy vốn là con nhà nghèo
nhưng thầy làm việc quan đắc lộ, kẻ kính người yêu bởi vậy cho nên có một ông
Cai tổng giàu có ở gần làng thầy mới kêu thầy mà gả con. Thầy cưới vợ về, vợ chồng
ở với nhau hơn mười năm mà không có con. Lần lần cha mẹ hai bên khuất hết. Vợ
chồng lãnh phần ăn của cha mỗi năm thâu huê lợi cũng được hai ba ngàn giạ lúa.
Thầy làm việc quan có lương bổng, mà tổng kính phục nên đi lễ vật hàng ngày; đã
vậy mà vợ thầy lại có của riêng, nếu thầy thủ phận như người ta thì bước quan lộ
của thầy chắc là. rộng dày, mùi phú quí vinh huê chắc là thầy nếm đủ.
Nào dè người đời hễ có may
thì có rủi, sự nên hư vinh nhục ngẫm cũng như nước lớn nước ròng. Thầy Ðàng làm
việc quan được mười hai năm rủi gặp một quan Tham biện không yêu thầy như mấy
ông trước, lại hễ thầy đi hầu trễ thì rầy, thầy làm việc chậm thì quở Tổng làng
dòm thấy quan không yêu thầy nữa thì coi bộ họ cũng bớt kính mến. Thầy nghĩ thế
tình lạt lẽo thì thầy buồn thầm, nên thầy gởi đơn xin quan trên đổi thầy qua tỉnh
khác. Quan trên đã không nhận lời thầy, mà quan sở tại lại càng khắc với thầy
nhiều hơn nữa, thầy tức trí mới xin thôi, rồi vợ chồng dắt nhau trở về Cần Ðước
cất nhà mà ở.
Mấy năm thầy làm việc
quan, nhà thầy khách khứa đông dầy dầy; thầy học đờn thầy đờn thiệt tươi, nên
đêm nào thầy cũng qui tụ những tay đờn giỏi đến hòa chơi với thầy. Hễ đờn đến
khuya thì ăn uống vui cười; vợ thầy tuy phải thức khuya coi nấu nướng mà đãi
khách, song muốn vừa ý chồng nên chẳng có một tiếng chi phiền trách.
Từ ngày thầy về ở trong
làng thì chẳng có ai tới chơi nữa, ban đêm vắng vẻ thầy có buồn thì lấy đờn ra
rồi đờn một mình mà thôi, đờn cây này đã thèm rồi đờn qua cây khác. Vợ thầy chẳng
có chi cực nhọc như khi trước, nhưng mà coi ý lại bớt trọng thầy. Nhiều khi vợ
thầy nghe những bạn đồng liêu của thầy khi trước kẻ làm Huyện người làm Phủ,
thì thường hay cằn rằn, hay trách thầy nói rằng tạí thầy ngang tàng chớ chi thầy
nhịn nhục mà theo làm việc quan, thì chắc ngày nay cũng được rỡ ràng như ngườì
vậy.
Thầy Ðàng bước ra khỏi
vòng quan lộ thì trong lòng phơi phới, chẳng hề có ý tiếc một chút gì. Thầy
tính nghỉ chơi thong thả một vài năm rồi sẽ liệu chước hoặc kinh dinh công
thương hoặc khai sáng nông nghiệp. Chẳng dè vợ chồng về trong làng ở chưa đầy nửa
năm mà thầy dòm coi vợ thầy ỷ của riêng nên có ý khinh thị thầy, hễ tính tới
chuyện làm ăn thì nó cứ tiếc chức thông ngôn, ký lục, cứ ham làm bà Phủ, bà Huyện
hoài; thầy thấy lòng dạ của đan bà như vậy thì thầy buồn thầm, bởi vậy cho nên
thầy cứ bỏ nhà mà đi chơi cho khuây lãng. Thầy đi thì thôi chớ hễ về đến nhà
thì vợ kiếm chuyện mà rầy rà. Thầy dọ chắc vợ thầy ngày trước mà yêu mến thầy
đó là vì cái chức thông ngôn của thầy nên mới yêu; nay thầy không còn oai quyền
nữa nên mới bạc đãi như vậy.
Ngày nọ vợ chồng rầy với
nhau, vợ nói nhiều lời phi nghĩa thầy giận bèn viết tờ để mà giao cho vợ, rồi
biểu như nói thầy là người không xứng đáng thì lấy chồng khác cho xứng đáng hơn
thầy. Người vợ cũng vui lòng lãnh tờ để, coi chẳng chút chi trìu mến hết.
Thầy Ðàng thấy thế tình
như vậy thì trong bụng cười thầm, bèn giao hết cửa nhà cho vợ, chỉ lấy có áo quần,
đờn sách mà thôi. Mà tưởng dẫu thầy muốn lấy tiền của thầy cũng khó mà lấy cho
đặng, bởi vì thầy làm việc quan hơn mười năm, tuy tiền bạc vô nhiều, song vô
bao nhiêu thầy xài hết bấy nhiêu, đến ngày xin thôi đi về làng, thầy phải lấy
huê lợi của vợ mà cất nhà và mua đồ đạc.
Nay vợ chồng xa nhau đồ đạc
cửa nhà ấy có phải của thầy đâu mà thầy dám đòi. May khi trước thầy có cho ít
người bằng hữu mượn mỗi người một đôi trăm đồng bạc. Vậy thầy dọn áo quần đờn
sách qua nhà em rể là Phan Hảo Tâm mà gởi, rồi tính đi đòi nợ mà xài đỡ.
Thầy lên ở Sài Gòn, Chợ Lớn
chơi mấy tháng anh em bạn kẻ thì khuyên thầy xin trở vô làm việc quan lại, người
thì biểu thầy xin vô mấy hãng mà làm. Thầy nghĩ rằng mình đi trong quan lộ hơn
mười năm đã chán rồi, nay mình được thong thả còn xin trở vô chi nữa. Còn bây
giờ mình xin giúp việc cho mấy hãng thì cũng được, mà nếu tránh đường nầy rồi
đi đường nọ, đường nào mình cũng không được làm chủ, như vậy thì ngày trước
mình xin thôi làm việc chẳng là dại lắm sao?
Thầy suy đi nghĩ lại chín
chắn rồi thầy mới nhứt định nếu không có nghề nào mà thầy làm chủ được thì thà
thầy đi dạy đờn mà chơi, dầu nghèo hèn thì thầy cam phận nghèo hèn, chớ thầy
không chịu quật hạ ai hết. Có thầy Hội đồng ở Bến Lức, vốn là người giàu lớn,
khi trước có mang ơn thầy, ngày nọ gặp thầy tại Sài Gòn thì mừng rỡ hết sức, mời
thầy đi ra nhà hàng ăn cơm nói chuyện chơi. Lúc ăn uống thầy tỏ hết tâm sự của
thầy cho thầy Hội đồng nghe. Thầy Hội đồng nghe hết đầu đuôi rồi nói rằng:
"Không hại gì thầy tính buôn bán làm ăn, nếu thầy cần dùng vốn liếng bao
nhiêu tôi sẽ giúp giùm cho, không sao đâu mà sợ".
Thầy Ðàng nghe mấy lời
trong bụng mừng thầm, nên rủ anh em quen hùn hiệp với mình đặng lập tiệm trữ đậu
mà bán. Anh em ai cũng thương, ai cũng muốn giúp cho thầy làm ăn, song làm việc
tại Sài Gòn, Chợ Lớn không ai dư tiền nhiều, bởi vậy cho nên mỗi người chịu hùn
năm bảy chục hoặc một trăm đồng bạc mà thôi. Thầy Ðàng thấy anh em hứa hùn, tuy
vốn không nhiều, nhưng mà số hùn đông, thì lật đật đi Bến Lức tìm đến nhà thầy
hội đồng nói chuyện lại cho thầy nghe, rồi cậy thầy giúp một đôi ngàn đặng có đủ
tiền mà lập tiệm. Thầy Hội đồng nói không có bạc sẵn, biểu đợi ít ngày thầy sẽ
đem lên Sài Gòn mà giúp cho. Ðợi gần trót tháng mà không thấy chi hết, thầy
Ðàng túng thế phải xuống Bến Lức nữa, chẳng dè xuống đó lại không có thầy Hội đồng
ở nhà. Thầy bền chí đi xuống luôn năm sáu lần nữa, mà không gặp mặt; thầy biết
thầy Hội đồng nói không thiệt thì thầy tức cười thầm, rồi về nhứt định đi dạy đờn
mà chơi, không thèm làm nghề chi hết.
Thầy đi trót năm tháng mới
trở về nhà em rể. Thầy nghe nói có thầy Phó tổng sở tại vợ chết nên gắm ghé muốn
cậy mai đến nói vợ thầy, mà ý vợ thầy cũng thuận rồi nên thầy Phó tới lui hoài.
Thầy biết vợ thầy là người tham bạc tham tiền, trọng quyền trọng tước, thì thầy
đã khinh bỉ rồi, mà thầy nghe nói mất tiết mất trinh thì thầy lại càng khinh bỉ
nhiều hơn nữa.
Từ ấy về sau thầy mang mấy
túi đờn lưu linh trong lục tỉnh, trót mười lăm năm trường, khi thì lên Châu Ðốc,
khi thì xuống Bạc Liêu, khi thì lại Tây Ninh, khi thì qua Bà Rịa. Tuy có lúc thầy
cũng xây xài bẩn chật, nhưng mà dầu khi nghèo cực thầy cũng giữ gìn danh dự, chẳng
hề làm cho thấp phẩm giá của thầy. Lúc sau đây thầy thấy thiên hạ lại ưa nghe
ca, thầy nghĩ dầu thầy đờn hay không có ai ca thì chắc thiên hạ cũng ít chuộng,
bởi vậy cho nên ra Bà Rịa thầy thấy con Ðoàn Kim Liên mặt mày sáng sủa, mà tiếng
nói lại thanh tao, thầy mới xin đặng thầy dạy ca, rồi dắt nhau đi đơn ca cho
thiên hạ nghe chơi mà lấy tiền. Thầv nuôi con Liên hơn một năm thầy dạy nó đã
biết đủ điều, mà lại biết được ít bản đờn tranh nữa. Vì nó có tám tuổi nên đờn
ngón chưa được tươi, chớ còn ca thì ai cũng phải khen bởi vì tiếng nó đã tốt mà
nó lại chắc nhịp nữa. Thầy trở vô Sài Gòn ở đờn mấy tháng thầy gặp một ông bầu
gánh hát cải lương, người thấy thầy đờn tươi, đặt bài ca hay, mà con Liên lại
có thinh có sắc thì ái mộ, nên cứ theo năn nỉ với thầy hoài, xin thầy theo giúp
giùm, thầy thì làm thầy tuồng còn con Liên thì đứng rạp. Thầy nghe lời khuyển dụ
thì cười ngất rồi dắt con Liên đi xuống Gò Công, không thèm trả lời chi hết. Thầy
ở Gò Công chơi ít ngày rồi tính đi lần lần về Cần Ðước mà thăm em, nào dè ra tới
Mỹ Lợi lại gặp tên Hữu rồi xin thêm thằng Ðược mà nuôi nữa.
Trong mười lăm năm nay thầy
ít hay về tổ quán là vì vợ thầy đã cải giá, thầy sợ về vợ chồng gặp nhau tuy thầy
không hờn giận, song vợ thầy cũng ngỡ ngàng. Nay thầy dắt hai đứa nhỏ vễ thì thầy
cũng tính về thăm em vài ngày rồi đi, chớ không phải tính về mà ở đó.
Thầy Ðàng bước vô cửa thì
vợ chồng Phan Hảo Tâm mừng rỡ hết sức hỏi căn nguyên con Liên với thằng Ðược rồi
lật đật làm gà dọn cơm cho thầy ăn. Phan Hảo Tâm là người cần kiệm, làm ruộng
không lớn, song nhờ làm thầy thuốc tổ đãi nên trong nhà có dư giả chút đỉnh; vợ
chồng có hai đứa con, đứa con gái lớn đã có chồng về trên Rạch Ðào còn đứa con
trai nhỏ thì còn học lại trường Chasseloup Laubat.
Thầy Ðàng thấy em trong
nhà thong thả thì mừng thầm; thầy hỏi thăm mọi việc nhà, song chẳng hề khi nào
hỏi tới vợ. Lúc thầy ngồi ăn cơm với hai đứa nhỏ, em gái thấy mới thỏ thẻ mà tỏ
rằng vợ thầy đụng thầy Phó tổng xưa nay không có con mà năm ngoái thầy Phó tổng
lại tỵ trần, vợ thầy bị sấp con ghẻ rầy rà nên đã trở về nhà cũ má ở, thầy Ðàng
nghe nói đến chuyện vợ thì châu mày coi có sắc buồn, chẳng hiểu là tại thầy nhớ
đến sự bất nghĩa của người xưa hay là tại thầy động lòng thương bạn cũ mà thầy
không nói chi hết.
Thầy ở Cần Ðước mấy bữa thầy
đến nhà thăm bà con cùng hết, nhưng mà thầy lánh không chịu đi lại gần nhà cũ của
thầy. Thầy vừa tính từ tạ em rồi dắt hai đứa nhỏ mà đi chẳng dè thầy nhuốm bịnh
thình lình nên thầy phải nấn ná ở lại mà dưỡng bịnh.
Phan Hảo Tâm lo thuốc cho
thầy uống, tuy bịnh thầy không thêm, nhưng mà cũng không giảm chút nào. Phan Hảo
Tâm coi mạch rất kỹ rồi nói thầy đau thận, nên cho thầy ăn cơn lạt với chuối hoặc
với đường mà thôi, chớ không cho ăn đồ mặn, lại khuyên thầy phải nương náu mà uống
thuốc đôi ba tháng thì bịnh mới dứt được. Thiệt thầy cũng chẳng đau chi cho lắm,
chỉ đau lưng, nhức tay, mỏi cẳng và có khi lại ran cái ngực mà thôi, song vì bởi
thầy ăn không được, nên nằm mới mấy bữa mà trong mình thầy yếu lắm.
Thằng Ðược với con Tiên ở
đó cứ ăn rồi chơi, chớ không làm chi; chúng nó buồn, con Liên mới bày ra dạy thằng
Ðược ca. Dạy đúng một tháng thằng Ðược đã biết ca đủ bản hết. Thầy Ðàng bịnh mười
phần đã giảm được năm phần rồi, mới biểu em mua hai cuốn vần quốc ngữ, ban ngày
thì dạy hai đứa nhỏ học chữ còn ban đêm thì dạy chúng nó học đờn. Con nhà giàu
trong làng thấy thầy dạy hai đứa nầy học đờn, thì thừa dịp nên áp tới mà xin thầy
dạy giùm. Thầy nghĩ mình còn bịnh chưa đi đâu được mà ở không cũng chẳng ích
gì, nên thầy chịu dạy đặng cho hai đứa nhỏ trong nhà học theo cho dễ.
Người vợ cũ thầy bỏ thầy
mà lấy Phó tổng gần mười lăm năm nay, nhà cửa phải giao cho một đứa cháu ở giữ
giùm, lúa ruộng năm nào góp xong rồi cũng phải nhập với lúa của thầy Phó để mà
xài chung. Tuy ở trong nhà thì tôi tớ, ra ngoài đường thì làng dân ai cũng thưa
cũng dạ, cũng kêu là bà Phó, nhưng mà có một chút đó mà phải ra công xem xét việc
nhà cho người ta, rồi mỗi năm lại phải giao cho người ta hơn hai ngàn giạ lúa nữa,
nghĩ thiệt mắc quá. Ðã vậy mà lúc thầy Phó tỵ trần sắp nhỏ con ghẻ lại nói nhiều
lời sỉ nhục, đứa thì nói mình thấy thầy Phó giàu nên bỏ chồng mà ám xác đặng giựt
của, đứa thì nói vì mình nên thầy Phó mới mang bịnh mà tỵ trần.
Cô trở về nhà cũ mà ở,
nghĩ đến việc chồng thì hổ thẹn trăm bề, mang chi cái thói ham tước ham quyền,
mà mười mấy năm nay hao tiền tốn của không biết bao nhiêu, lại còn phải mang tiếng
lộn chồng, mang điều bạc nghĩa. Cô đương buồn rầu bỗng nghe chồng cũ trở về,
tuy cô không dám để lòng trông con chìm cũ vào cái lồng xưa, nhưng mà cô nằm ngồi
không an, coi ra tuồng như cô thương nhớ thầy lắm vậy.
Ðêm nào cô cũng chong đèn
ngồi mà suy nghĩ, nếu thầy Ðàng kêu cửa thì chắc là cô bỏ giày chạy ra ôm khóc
rồi năn nỉ ỷ ôi cho thầy dung thứ tội ngày xưa, mà cô ngồi đợi hoài không nghe
ai kêu, duy nghe canh tàn gà gáy vang rân, duy thấy chích bóng trong phòng hiu
quạnh. Cách ít ngày cô lại nghe thầy nhuốm bịnh, cô mới lần đến mấy nhà gần
Phan Hảo Tâm mà chơi. Tuy là cô giả bộ đi chơi, song trong lòng cô thì cô quyết
hỏi thăm coi bịnh chứng của thầy nặng nhẹ thể nào, và thầy về có tỏ dấu đoái tưởng
đến cô chút nào không. Người trong xóm thuật chuyện thầy về có hai đứa nhỏ cho
cô nghe, lại nói bịnh thầy nặng lắm, có thể thầy phải ở uống thuốc lâu lâu mới
mạnh được.
Ngày nào cô cũng đi qua đi
lại ngang trước nhà Phan Hảo Tâm, rồi ghé mấy nhà gần đó khi thì hỏi mua trứng
gà, khi thì mướn người đắp đất. Một bữa nọ cô đương ngồi trong nhà bà Cẩn, bỗng
thấy thằng Ðược với con Liên đi lại đó chơi. Cô lấy làm mừng mới hỏi thăm chuyện
thầy, lại thấy lai đứa nhỏ ngộ nghĩnh cô đem lòng thương nên cô biểu chúng nó
đi theo cô lên nhà cô chơi. Thằng Ðược với con Liên bước vô nhà thấy nhà cửa
kinh dinh, ghế tủ hực hỡ thì ké né không dám ngồi. Cô hối đứa ở trong nhà chạy
đi mua bánh đem về cho hai đứa nhỏ ăn rồi cô mới hỏi rằng: "Hai cháu kêu
ông thầy đó bằng giống gì?".
Hai đứa ngó nhau rồi thưa
rằng: "Thưa, con kêu bằng thầy".
Cô cười rồi nói rằng:
"Hai cháu biết hôn? Qua đây là vợ cúa thầy đó đa, Thầy giận qua rồi bỏ đi
hơn mười lăm năm nay không chịu về nhà. Hai cháu muốn ở đây với qua hay không.
Như muốn thì biểu thầy về đây mà ở, đặng hai cháu sung sướng tấm thân. Ở với
qua, qua may áo quần tốt cho mà mặc".
Hai đứa ngồi lặng thinh
không nói đi nói lại chi hết. Chơi một hồi rồi thưa với cô mà về, vì sợ đi chơi
lâu thầy rầy. Cô cho mỗi đứa một cắc bạc rồi dặn mỗi bữa lên cô cho ăn bánh.
Hai đứa nhỏ ra đường lấy làm đắc ý nói nói cười cười, hỏi với nhau tại sao thầy
có nhà tốt, có vợ yêu như vậy mà lại không chịu về nhà lại trôi nổi dạy đờn làm
chi cho cực thân nhọc trí. Tuy cô dặn, song hai đứa nhỏ về không dám nói ra mà
hễ năm ba bữa thì giả bộ đi chơi rồi lên nhà cô mà ăn bánh.
Ngày nọ cô thấy Ba Sự, là
em thầy Ðàng, đi ngang qua nhà, cô liền mời vô rồi khóc lóc mà tỏ lòng ăn lăn lỗi
ngày trước, và xin cô Ba Sự làm phước nói giùm cho thầy hết giận đặng trở về
nuôi dưỡng cho thong thả tấm thân. Cô Ba Sự thấy vậy cũng động lòng, nên hứa để
đợi anh lành mạnh rồi sẽ kiếm cách mà dọ ý.
Thầy Ðàng uống thuốc hơn bảy
tháng mới thiệt mạnh. Con Liên học đờn tranh đờn kìm lão thông còn thằng Ðược
thì đờn kìm với đờn cò cây nào cũng đờn gần đủ bản. Hai đứa lại biết đọc biết
víết chữ quốc ngữ rồi hết. An Tết xong rồi thầy mới cột đờn gói sách sửa soạn
muốn dắt hai đứa nhỏ mà đi. Tối bữa ấy thầy đương nằm nói chuyện với em rể, thì
em gái thầy trong buồng bước ra ngồi bộ ván bên kia têm trầu mà ăn rồi hỏi thầy
rằng:
- Anh Hai, anh tính đi đâu
nữa hay sao mà ngày nay anh thu xếp đồ đạc đó vậy?
- Ừ, qua tính sáng mai qua
đi Bến Tre, Mỏ Cày chơi.
- Ý anh muốn em không dám
cãi, chớ thiệt em thấy anh đi em buồn quá.
- Vậy chớ thuở nay đó sao?
- Thuở nay anh mạnh giỏi
chẳng nói làm chi. Nay anh hơn năm mươi tuổi rồi, anh đã già yếu mà trong mình
lại có bịnh nữa. Anh đi xa như mạnh giỏi chẳng nói gì còn khi ươn yếu thì có ai
đâu mà nhờ cậy.
- Chí qua muốn thong thả,
một chỗ tù túng qua chịu không được. Mà em biểu qua đừng đi thì tiền đâu có cho
qua xài, cơm đâu có cho qua ăn.
Hảo Tâm nghe nói tới đó liền
ngồi dậy mà trả lời:
- Anh ăn xài bao nhiêu đó
mà anh lo dữ vậy. Anh ở nhà đây vợ chồng tôi nuôi cho.
- Dượng có bụng tốt thì
tôi cảm ơn lắm. Song tôi biết dượng đủ ăn chớ không phải giàu có chi. Mấy tháng
nay tôi về đây làm tốn cơm tốn nước mà lại còn tốn thuốc men của dượng nữa, tôi
nghĩ tới thì tôi ái ngại vô cùng. Tôi chưa đền ơn cho dượng được, nay lành mạnh
rồi lẽ nào tôi còn theo mà làm nhọc cho vợ chồng dượng nữa hay sao.
- Anh em mà đền ơn báo
nghĩa nỗi gì.
Ba Sự xen vô mà nói rằng:
- Mà bây giờ anh tính đi
làm việc gì ở đâu anh nói nghe thử coi.
- Ði ra trước dạy đờn kiếm
tiền xài sau chơi luôn thể.
- Dạy đờn vậy chớ ở nhà
đây lại dạy không được hay sao? Con nhà giàu họ học hiếm đó, anh dạy họ mà ăn
tiền, cần gì phải đi đâu cho mệt.
- Ở nhà buồn lắm, dạy giống
gì được.
- Cần Ðước là chỗ nhau rún
của mình, về đây sao anh lại buồn? Hay là về ở đây anh nhớ chuyện cũ, anh xét
phận anh bây giờ nghèo hèn, còn phận chị Hai thì giàu có, nên anh hổ thầm rồi
anh buồn phải không?
- Qua có hổ thẹn chi đâu,
qua đắc ý lắm chớ! Cái nghèo của qua đây gia tài của họ đó dầu bán cho hết đi nữa
mua cũng không nổi đâu; em đừng có tưởng qua thấy họ giàu còn qua nghèo mà hổ
thẹn.
- Hứ! Anh khinh khi người
ta quá!... Ðời này có cái chi quí hơn đồng tiền. Phải hồi trước anh chịu nhịn
nhục mà làm việc quan, thì ngày nay có lẽ anh đã làm tới Ðốc phủ rồi. Mà nếu
anh không chịu làm quan, thì anh nương theo chỉ có lẽ trọn đời anh cũng khỏi cực
khổ. Em nghĩ thiệt em tiếc quá.
- Phận em là đàn bà, em
đâu có hiểu tâm chí của qua mà em nói.
- Em cũng biết làm đàn ông
ở không mà ăn chực của vợ thiệt cũng không tốt gì đó. Mà hồi còn trai tráng anh
đủ tài đủ trí, đủ tay đủ chơn, anh không thèm hưởng nhờ của vợ, thôi em cũng
cho là phải đi. Nay anh đã già yếu rồi, nếu anh cứ cứng cỏi hoài thì...
- Em đừng có nói quấy như
vậy! Con người lúc còn trẻ thì hay làm bậy, đến chừng già rồi mới sửa tánh lại.
Phận anh đây, hồi nhỏ anh đã làm phải, bây giờ già rồi em lại biểu anh phải sửa
lại mà làm quấy hay sao?
Thầy Ðàng nói tới đó lồm cồm
ngồi dậy mà ngó ngay Ba Sự. Hảo Tâm cũng ngồi dậy vấn thuốc mà hút, còn thằng
Ðược với con Liên thì đứng dựa tủ thuốc lóng tai mà nghe. Thầy Ðàng tằng hắng rồi
nói:
- Thế thì em muốn qua trở
lại vợ cũ qua hay sao chớ?
Ba Sự ngồi lặng thinh
không trả lời. Thằng Ðược mấy tháng nay ăn bánh lãnh tiền của cô Phó đã nhiều,
có lòng ước ao cho thầy chịu trở về với cô đặng ăn mặc cho sung sướng nên nghe
thầy hỏi như vậy thì trong lòng hồi hộp trông coi thầy tính lẽ nào. Cách một hồi
Ba Sự mới nói rằng:
- Nếu anh chịu trở về ở với
chỉ thì tiện lắm. Em biết chắc hễ anh về thì chỉ mừng lắm. Chỉ thấy anh bây giờ
già yếu nghèo nàn mà lại hay đau ốm, thì chỉ thương, nên mấy tháng nay chỉ cậy
người này người kia nói giùm mà không dám nói. Em nghĩ nếu anh trở về ở với chỉ
thì xong, bởi vì...
- Nín! Em đừng nói bậy. Em
bưng chén nước em đổ rồi, em hốt lại cho đầy chén được hay không?
- Ở đời có cần gì. Ở đời
này miễn là có tiền bạc nhiều thì thôi.
- Hứ? Khéo bày chuyện làm
cho tôi mang nhục!
Hảo Tâm thấy anh vợ có sắc
giận liền xen vô mà nói rằng:
- Vợ tôi nó tính quấy mà
cũng có chỗ phải đó anh. Anh xét lại đó mà coi, nếu anh về ở với chỉ, thì nằm
không cũng có của cho mà ăn; thân anh đã sung sướng mà anh em lại gần gũi nhau
được nữa.
- Té ra dượng cũng vậy nữa
sao?
Thầy Ðàng trả lời có mấy
tiếng rồi nằm day mặt vô vách mà ngủ không thèm nói chi hết. Thằng Ðược với con
Liên không hiểu vi cớ nào mà nhà tốt vợ đẹp mà thầy không thèm, nên ngó nhau rồi
cũng dắt nhạu đi ngủ.
Rạng ngày có lái buôn lúa ở
lối xóm dọn ghe bạn đi Bến Tre mua lúa đặng chở về Chợ Là mà bán. Thầy Ðàng thừa
dịp ấy mới xin quá giang mà đi Bến Tre. Khi thầy ôm đờn dắt hai đứa nhỏ ra khỏi
nhà thầy liền nói với chúng nó rằng: "Tao không dè sắp đó là đồ tiểu nhơn,
Tao nói thiệt đến chết tao cũng không bước chơn về đó nữa. Mà ngày nào tao có
chết bây cũng đừng cho chúng nó hay làm gì"
Chương 4
Ðêm rằm tháng giêng, bóng
trăng tỏ chói trời Nam vằng vặc, dòng nước xanh tràn sông Trước minh mông. Từ
vàm Kỳ Hôn xuồng tới mỏm Tam Lạch, trời trời nước nước ê hề trăng giọi, gió
đùa, mặt nước lao xao mà lại rạng ngời coi như thể vàng trôi bạc chảy Cách một
khoảngxa xa mới có một chiếc thuyền buồm trương, chèo xếp, thả giữa dòng để cho
nước xuôi gió thuận đưa đi. Hai bên sông cây cỏ im lìm, một giây lâu mới nghe
tiếng trống trở canh văng vẳng.
Chiếc ghe của thầy Ðàng ra
khỏi vàm Kỳ Hôn rồi thì bạn lái đều ngủ hết, duy còn có một chú tài công ngồi
phía sau, tay nắm lèo, tay cấp bánh lái, nhắm dòng nước mà thả linh đinh; đêm
khuya khoảng vắng, gió mát trăng trong, anh ta hứng cảnh động tình nên cất tiếng
mà nói thơ Lục Vân Tiên nghe inh ỏi. Thầy Ðàng nằm trong mui lặng lẽ đương suy
đi xét lại những thế tục nhơn tình, bỗng nghe tiếng tài công nói thơ, thầy ngứa
nghề, liền lồm cồm ngồi dậy lấy cây đờn cò mà đờn theo đặng giải cơn buồn chút
đỉnh. Chú lái với hai đứa nhỏ đương ngủ nghe tiếng đờn cũng giựt mình thức dậy,
rồi ngồi nghe chơi vui vẻ vô cùng. Chú lái muốn để cho bạn nghỉ ngơi cho yên,
nên không kêu, chú mới bổn thân đốt đèn nhúm lửa rồi nấu nước trà cho thầy uống.
Tài công nói thơ một hồi rồi
nghỉ. Thầy Ðàng uống nước rồi mới biểu thằng Ðược lấy đờn kìm mà hòa với thầy,
còn con Liên thì ca theo. Chú lái tuy là người lam lụ làm ăn, xưa nay ở nhà làm
ruộng thì mảng sợ mạ tim lúa háp, ngồi nghe đi buôn thì mảng lo bán đắt mua
may, chớ chưa biết thú vị phong lưu là thể nào, nhưng mà chú ngồi nghe đờn ca một
hồi rồi tâm thần bễ nghễ[1], mày mặt ngáo ngơ, nếu lúc ấy ai cắc cớ hỏi chú vậy
chớ đờn ca như vậy mà hay dở thế nào, thì chắc chú nói nghe thì là hay, mà sao
trong lòng ngần ngại bâng khuâng, dường như thương ai, nhớ ai, khó mà nói rõ ra
cho được.
Con Liên ca mệt thì lấy đờn
mà đờn, nhường lại cho thằng Ðược ca, hai đứa thay đổi với nhau ca đủ bài bản hết.
Chú lái lấy làm đắc ý, mà chú tài công cũng rất vui lòng. Thầy Ðàng hồi hôm nằm
lặng lẽ nghĩ đến việc đời thì buồn thầm, mà chừng thầy đờn cho hai đứa nhỏ ca một
hồi rồi thì thầy quên hết những chuyện xưa, sắc mặt hân hoan, tấm lòng nhàn lạc.
Ghe xuống tới Bến Tre thầy
Ðàng tạ ơn chú lái rồi ôm đờn dắt hai đứa nhỏ lên bờ, tìm nhà ông Phán Cầm là bạn
học thuở nhỏ mà thăm. Ông Phán Cầm thấy thầy thì mừng rỡ vô cùng. Thầy dòm nhà
ông Phán thấy chưng dọn hực hỡ, tôi tớ rần rộ, vợ con lòe loẹt, thầy nghĩ đến
cách lập nghiệp của người giúp việc quan thì thầy có ý cười thầm. Nhưng mà anh
em hồi nhỏ học một trường, yêu mến nhau, mà đã lâu rồi không có dịp gặp nhau,
nên thầy không nỡ chiết báng nhau, thầy mới hỏi thăm gia đạo coi ông Phán làm
ăn lợi hại thế nào cho biết. Ông Phán nghe hỏi đến việc nhà thì đắc ý bèn nói
thiệt rằng từ khi ông đổi lại Bến Tre đến nay kể đã hơn mười năm rồi, lúc ban đầu,
thiệt ông chẳng được khá cho lắm, song mấy năm sau đây dân sự quen biết ông nhiều,
rồi thì tiền bạc vô như nước, ngày nào cũng kiếm chác năm mười đồng, mà nếu gặp
mấy vụ lớn thì ông lại có tới năm ba chục. Ông Phán tỏ việc mình rồi mới hỏi
thăm lại thầy Ðàng. Thầy thấy ông Phán lấy tình thiệt mà đãi mình, lại có ý muốn
tỏ lòng nhàm chán thế tục của mình cho ông Phán biết nên cũng không giấu giếm,
bèn thuật hết các việc của mình cho ông Phán nghe.
Ông Phán nghe thầy Ðàng
nói hết đầu đuôi rồi, trong bụng hơi chê thầm rằng thầy không biết thừa thế,
nhưng vì anh em thương nhau, nay mình được khá còn anh em mình nghèo, nếu không
giúp nhau thì sợ miệng thiên hạ họ cười mình bất nghĩa, bởi vậy cho nên ông
Phán mới cầm thầy ở lại đó, trước là anh em sum hiệp với nhau cho vui, sau nữa
ông kiếm người học đờn cho thầy dạy, khỏi đi đâu cực khổ.
Cô Phán là người đàn bà
hay chiều theo ý chồng, mà cô lại có tánh ham nghe đờn nghe ca, có ban hát cải
lương nào lại hát tại Bến Tre, hễ hát mấy đêm thì cô xem đủ mấy đêm, dầu ca hay
ca dở, dầu tuồng trưng lớp luân thường thuần mỹ, hay là diễn hồi phong tục suy
đồi, cô cũng chẳng cầu miễn là nghe tiếng đàn giọng ca thì cô vui, chẳng kể chi
lớp lang tuồng tập. Cô nghe ông Phán nói thầy Ðàng đờn cây nào cũng tươi, còn
hai đứa bài nào ca cũng giỏi, thì cô có ý mừng thầm; chừng nghe nói thầy Ðàng
chịu ở mà dạy đờn thì cô lấy làm đắc ý lắm. Cô sợ thầy Ðàng ngại ngùng không ở
lâu, nên ông Phán đi hầu thì cô ở nhà bải buôi tiếp đãi thầy rất ân cần.
Chiều thứ bảy ông Phán dọn
tiệc mời mấy thầy trong tỉnh đến ăn uống chơi, rồi thầy Ðàng với hai đứa nhỏ đờn
ca, thì khách ngồi nghe chẳng ai mà không khen ngợi. Bữa sau có năm sáu thầy đến
xin học đờn, lần lần rồi con nhà giàu rải rác cũng đến xin học, Thầy Ðàng ban
đêm thì dạy đờn, còn ban ngày hễ ông Phán đi hầu rồi thì ở nhà thầy dạy con
Liên với thằng Ðược học chữ, lại dạy cách cư xử với người đời, nhứt là thầy
khuyên hai trẻ ở đời phải giữ gìn danh dự cho vẹn toàn.
Thầy Ðàng ở tại nhà ông
Phán Cầm trót ba năm, vợ chồng ông Phán cũng vui vẻ luôn luôn như ngày mới đến.
Thằng Ðược tuy ăn no mặc ấm, lại mấy thầy thấy nó bặt thiệp thường hay cho nó
tiền mà xài chơi, nhưng mà có đêm nó nằm nhớ đến Ba Thời thì nó chứa chan giọt
lụy. Ông Phán có một đứa con trai còn học ngoài Hà Nội, nên trong nhà chẳng có
trẻ nhỏ đặng bậu bạn cho vui, túng thế nó phải chơi với con Liên; tuy con gái
chơi không được vui, song gần gũi nhau nhiều ngày rồi lần lần khắng khít cùng
nhau nên yêu nến nhau cũng như anh em ruột.
Bữa nọ ông Phán xin phép
nghỉ mười ngày đặng về Biên Hòa mà thăm cố hương. Cô Phán ở nhà với thầy Ðàng,
câu chuyện vãn, cách đứng ngói, coi có ý lả lơi. Thầy lấy làm bất bình, bèn giả
chước đi Mỏ Cày thăm bà con, thầy để hai đứa nhỏ ở lại, còn thầy xách va-li xuống
tàu đi mất. Ông Phán đi Biên Hòa về hai ba ngày rỗi thầy mới trở về. Thầy ở đó
được nửa tháng nữa rồi thầy còn nói với ông Phán để cho thầy qua Trà Vinh chơi
ít bữa. Ông Phán tưởng thầy đi ít bữa rồi trở lại, nên không cầm cọng làm gì.
Thầy Ðàng đi từ giã mấy người học đờn thì họ tiễn hành mỗi người đôi ba chục đồng
bạc, trong túi thầy cộng cũng được hơn một trăm rưỡi đồng bạc.
Thầy Ðàng sợ vợ chồng ông
Phán nghi thầy đi luôn không trở lại, rồi cầm thầy thì khó cho thầy thoát thân,
bởi vậy thầy đem theo có vài cái áo quần với mấy cây đờn, thầy để lại chút ít
hành lý cho ông Phán và mấy thầy học đờn tin thầy sẽ trở lại.
Khi tàu chạy khỏi bến rồi,
thầy Ðàng ngồi ngó quang cảnh hai bên mé sông thầy nghĩ thế thái nhơn tình thì
thầy lắc đầu chán nản. Thầy kêu thằng Ðược lại ngồi một bên thầy rồi thầy nói:
"Nầy con, xưa nay thiên hạ họ thường khinh bỉ mấy thầy dạy đờn, họ cho thầy
đờn là bợm bãi. Thầy không hiểu vì cớ nào mà thầy đờn lại chịu tiếng nhơ như vậy.
Nay thầy mới hiểu, nếu thầy đờn mà không biết giữ danh giá ắt chẳng khỏi mang
nhơ đó con".
Thằng Ðược nghe nói không
hiểu ý thầy bèn hỏi rằng: "Thưa thầy, tại sao mà thầy nói vậy?".
Thầy Ðàng vấn thuốc hút rồi
nói tiếp rằng: "Phàm đàn bà con gái phần nhiều đều ưa nghe đờn. Mà tiếng đờn
của Việt Nam thì là giéo giắc rỉ rả, nghe ca bắt thương, bắt nhớ, bất cảm, bắt
động tình, bởi vậy cho nên ngón đờn tươi chừng nào thì càng làm cho đàn bà con
gái dễ mê chừng nấy. Nếu làm thầy đờn mà không chánh tâm, không trọng nghĩa,
thì thiếu chi dịp làm cho bọn quần thoa mất tiết mất trinh. Mà xưa nay bọn thầy
đờn có bao nhiêu người được chánh tâm, biết trọng nghĩa? Bởi vậy cho nên mang
tiếng bợm bãi cũng phải chớ nào không. Thầy coi con còn nhỏ mà ngón đờn đã tươi
rồi, chắc chừng con khôn lớn cây cò với cây kìm của con chẳng ai ăn được. Vậy
con phải nhớ lời thầy dặn, nếu ngày sau con có nghề nghiệp nào khác thì con đừng
có dạy đờn; ví bằng con không có nghề, con phải ra làm thầy đờn thì con phải
ráng mà chánh tâm trọng nghĩa cho lắm mới được".
Thằng Ðược ngó con Liên mà
cười chúm chím rồi day lại hỏi thầy Ðàng:
- Mình đi Trà Vinh đây rồi
chừng nào trở về nhà ông Phán vậy thầy?
- Ði luôn chớ không về nữa.
- Sao vậy thầy?
- Nếu trở về đó sợ có ngày
tao phải mang nhục.
- Nếu vậy sách với áo quần
thầy còn để lại đó, thầy bỏ hết sao?
- Ðể kiếm chỗ ở yên rồi
tao sẽ viết thơ mượn ông Phán gởi qua.
Ðến hai giờ chiều tàu súp
lê nghe ình ỏi. Trên cầu tàu mà Trà Vinh thiên hạ lao xao, kẻ chực rước bà con,
người hỏi thăm bậu bạn. Phía trong, xe kéo đậu sấp hàng ngay bót, bọn xa phu chạy
lăng xăng mời khách lên xe. Chú bếp[2] đứng giữa cầu tay cầm roi mây, miệng
hỏi giấy thuế thân, vinh mặt châu mày coi oai nghi lẫm liệt.
Thầy Ðàng xách va-li bước
lên cầu ngoắc một tên xa phu lại mà trao cho nó biểu xách đen để lên xe, rồi thầy
vói xuống tàu mà lấy mấy túi đờn và vịn cho hai đứa nhỏ leo lên. Thầy bịt khăn
đen mặc áo dài lượt bượt, mà lại gặp dịp lộn xộn nên rủi sút rớt hết một chiếc
giày hàm ếch xuống dưới kinh. Lúc thầy đương lụi đụi đó chú bếp đứng giữa cầu lại
kêu: "Ê! Ông già kia, trình giấy thuế thân ra coi nào". Thầy nghe
nhưng mà mắc lộn xộn với chiếc giày nên không trả lời. Chừng hai đứa nhỏ lên
xong rồi thầy rút chiếc giày còn lại đó trao cho con Liên cầm, rồi dắt nhau đi
lại xe. Lúc đi ngang qua chú bếp thì thấy chú đương xét giấy thuế thân một người
khách trú thầy mới đi luôn. Chú bếp dòm thấy bèn kêu trở lại mà hỏi rằng:
"Sao không trình giấy thuế thân? Trốn đi đâu đó?". Thầy nghe giọng vô
lễ thì giận lắm, nhưng vì thầy biết luật phép, thầy sợ trái phép nước nên không
dám đôi co. Thầy mở bóp lấy giấy thuế thân đưa cho chú bếp xem, chú bếp trọn mắt
ngó thầy lườm lườm, còn thầy thì liếc ngó ngang, bộ khinh bỉ lắm. Chú bếp mở ra
coi rồi trả giấy lại cho thầy, mà khoát tay biểu đi, bộ tịch thiện là xấc xược.
Thầy đương giận trong
lòng, mà chừng đi lại gần tới xe, thầy lại nghe tiếng la hét om sòm. Thầy day lại
thì thấy chú bếp lại cầm roi mà đánh bổ lên đầu một người trai chừng hai mươi
lăm, hai mươi sáu tuổi, mặc quần vải đen cũ, áo vải trắng cụt, coi bộ thì biết
là một nông phu quê mùa dốt nát ở trong làng. Thầy thấy vậy lấy làm bất bình, dằn
lòng không được bèn bỏ mấy túi đờn chạy lại giựt roi mà nạt rằng: "Mầy
ngang quá! Mầy có phép nào mà được đánh người ta. Như người ta có tội thì bắt
giải người ta đến tòa bố hoặc tòa án cho quan phân xử, chớ sao mầy được gióc[3] roi
trên đầu người ta vậy?".
Chú bếp đã ghét sẵn thầy
Ðàng rồi, chừng thấy thầy là người vô can mà nhảy ra binh vực như vậy thì càng
giận hơn nữa, nên bỏ tên dân quê mùa ấy, day lai thộp ngực nắm áo thầy mà kéo
đi. Thầy vùng vẫy không chịu đi, lại la om sòm biểu chú bếp phải buông ra. Chú
bếp không thèm nghe, cứ việc kéo xểnh thầy đi. Thằng Ðược thấy việc chẳng lành
thì bối rối trong lòng còn con Liên thi cặp mắt ướt rượt. Những người có mặt tại
đó đều đứng nhìn trân trân, không ai nói tiếng chi hết.
Thầy Ðàng vùng vẫy không
được, túng thế phải đi theo chú bếp, thầy vừa đi vừa day mặt lại kêu thằng Ðược
mà nói rằng: "Ðược, con để hết đồ lên xe kéo rồi dắt em theo đây". Thằng
Ðược lấy túi đờn để lên xe với cái va-li rồi biểu xe kéo đi.
Chú bếp buông áo mà nắm
tay thầy Ðàng dắt đi trước, kế đó thì thằng Ðược nắm tay con Liên mà đi theo,
sau nữa thì cái xe kéo chở đồ. Ði đến cửa bót, chú bếp dắt thẳng thầy vào bót,
còn con Liên thằng Ðược với cái xe kéo thì ở ngoài đường. Hai đứa nhỏ ngồi dựa
lề đường mà ngó chừng vô bót, không biết việc lành dữ thế nào, nên trong lòng lấy
làm lo sợ, cứ nhìn nhau hoài chớ không dám hó hé. Cách một hồi bỗng nghe tiếng
ông Cò la hét om sòm, rồi cũng nghe tiếng thầy Ðàng trả lời, song nói tiếng Tây
nên hai đứa nhỏ không hiểu. Tên xa phu ngồi vấn thuốc mà hút, lại lầm bầm nói rằng:
"Ông Cò này ổng oai lắm, lôi thôi đây đố khói bị ổng". Hai đứa nhỏ
đương ngồi trong, bỗng có một tên lính trong bót đi ra thấy xe kéo với hai đứa
nhỏ thì hỏi rằng: "Làm giống gì mà ở đây?". Hai đứa nhỏ đứng dậy. Tên
xa phu trả lời rằng: "Hai đứa em nó đi với ông già bị chú bếp bắt hồi nãy
nên ngồi đây mà chờ ổng". Tên lính nói rằng: "Vậy hay sao?" Ông
Cò đã dạy giam ông già đó đặng sáng mai giải lên tòa, chờ giống gì được mà chờ.
Ði đi cho mau, ở đây ông Cò ổng ra ổng thấy ổng rầy đa".
Hai đứa nhỏ nghe nói thì
chết điếng trong lòng, nên bắt rưng rưng nước mắt. Tên xa phu bèn nói rằng:
"Hai đứa bây tính sao bây giờ? Bây có tiền hay không? Thôi, trả tiền xe
cho tao đi, chớ bây neo xe tao hoài hay sao". Thằng Ðược lấy làm bối rối
không biết liệu thế nào. Lúc ở Bến Tre mấy thầy học đờn cho nó tiền, nó ăn
không hết, lúc ấy trong lưng nó còn được tám cắc bạc, nên nó trả tiền xe thì được
rồi, mà trả tiền rồi biết đi đâu, đồ đạc đem chỗ nào mà để. Nó đương lo tính
trong lòng, tên xa phu lại hỏi răng: "Ở đây bây có bà con quen biết với ai
hay không? Như có thì để tao chở giùm đồ lại đó rồi trả tiền luôn thể". Thằng
Ðược ngó con Liên rỏi đáp rằng: "Hại quá ở đây tôi không có quen với ai hết".
Tên xa phu chau mày mà hỏi:
- Nếu không có quen, bây
giờ ông già bị bắt rồi bây làm sao?
- Ðể tôi kiếm nhà ở đậu đặng
chờ thầy tôi chớ biết làm sao bây giờ.
- Hứ! Nếu không có quen vậy
chớ lại đây làm gì? Thôi, bây trả tiền xe phứt cho tao đi cho xong.
Thằng Ðược thò tay vào túi
lấy ra một cắc bạc mà đưa cho tên xa phu, tên xa phu vùng vằng nói rằng:
"Úy! Ðược đọt đâu nà, dưới cầu tàu keo lên tới đây rồi chờ nãy giờ gần một
giờ đồng hồ, trả một cắc bạc sao được". Thằng Ðược thấy vậy bèn lấy ra
thêm một cắc bạc nữa rồi đưa mà nói rằng: "Tội nghiệp, xin chú thương
giùm. Hai đứa tôi có tiền bạc gì đâu. May tôi có vài ba cắc bạc để ăn cơm đỡ.
Xin chú chịu phiền lấy hai cắc bạc đây".
Tên xa phu lấy hai cắc bạc
rồi mới xách va-li với ba túi đờn mà đưa cho hai đứa nhỏ. Nó vừa kéo xe đi
thăng Ðược kêu mà hỏi rằng: "Nầy chú không biết đường lại chợ đi ngõ nào
đâu chú hả?". Tên xa phu bảo đi thằng đường trước mặt đó lên đến ngã tư
thì quẹo qua tay trái rồi đi riết xuống thì sẽ đụng chợ.
Thằng Ðược tay mặt xách
cái va-li tay trái xách cá túi đờn kìm còn con Liên tay thì ôm đờn tranh, tay
thì xách đờn cò, hai đứa dắt nhau đi theo đường tên xa phu mới chỉ đó. Hai đưa
đi một khúc thì để xuống mà nghỉ tay. Con Liên mới hỏi thằng Ðược rằng:
- Thầy bị giam như vậy mà
không biết có hại cho hay không?
- Không sao đâu Thầy biết
tiếng Tây giỏi, đến tòa thầy nói chắc tòa tha liền chớ gì; không biết chừng thầy
làm chú bếp đó bị phạt nữa chớ. Ngang quá mà! Mới làm bếp mà muốn đánh ai thì
đánh.
- Tôi sợ quá anh à.
- Sợ giồng gì?
- Hồi tôi thấy chú bếp nắm
áo thầy, tôi sợ run đó anh.
- Qua không sợ chút nào hết.
Qua muốn nhảy vô binh thầy song qua sợ thầy rầy nên qua không dám.
- Bây giờ mình xuống chợ
làm gì? Nếu mình đi đây thầy ra thầy biết mình ở đâu mà thầy kiếm. Tôi tưởng ở
lối trước bót đó mà chờ thầy thì tốt hơn.
- Không được đâu. Người ta
nói rằng Cò đã giam thầy đặng sáng mai giải đến tòa, thầy ra sao được mà chờ.
Bây giờ mình xuống kiếm quán mua cơn ăn, rồi kiếm chỗ gởi đồ chớ xách tồn tền
như vầy bất tiện lắm. Chừng gởi đồ xong rồi mình sẽ lên đó mà chờ thầy.
- Tiền đâu mình ăn cơm?
- Qua còn được sáu cắc bạc
đây.
- Vậy sao? Nè, mà thầy ở
trong bót chiều nay cơm đâu thầy ăn?
- Qua có tính rồi. Ðể xuống
chợ qua mua bánh mì rồi đem cho thầy ăn.
Hai đứa bàn tính với nhau
rồi mới xách đồ đi nữa, xuống tới chợ thì nghe đồng hồ trong tiệm rượu gõ bốn
giờ. Hai đứa tìm vào một cái quán nhỏ, mua một xá xiêu sáu xu, bốn xu cơm mà
ăn. Ăn uống xong rồi mới xách đồ đi kiếm mua một ổ bánh mì ba xu với một cặp lạp
xưởng, mượn nướng cho chín, rồi xin giấy nhựt trình gói chung vô một gói. Hai đứa
xách đồ đi qua đi lại trước chợ ba bốn lần; dòm coi thiên hạ đều lạ hết, không
ai đoái hoài đến mình, nên tính xin gởi đồ ở đậu, mà không biết ai rộng lòng mà
dám hỏi.
Ði nghểu nghến đến năm giờ,
thình lình may gặp một người đàn bà chừng bốn mươi lăm tuổi ăn mặc tầm thường,
đầu đội khăn vằn, chân không có giày guốc chi hết. Người ấy ngó con Liên một hồi
rồi hỏi rằng: "Hai đứa bây ở đâu mà nãy giờ tao thấy xách đồ đi nghểu nghển
hoài vậy?". Thằng Ðược nghe hỏi thì trong lòng chẳng xiết nỗi mừng, nên lật
đật thưa rằng: "Thưa thím, hai anh em tôi bên Bến Tre đi với thầy tôi, vừa
đến đây hồi xế rủi gặp một chú bếp muốn kiếm chuyện hại thầy tôi, nên bắt đem về
bót rồi ông Cò giam thầy tôi. Từ hồi xế đến bây giờ hai anh em tôi bơ vơ không
biết chỗ nào mà nương ngụ".
Người đàn bà ấy nghe nói
như vậy liền đáp rằng: "Té ra bây đi với ông già gây với chú bếp ngoài cầu
tàu đó sao? Tao có nghe mấy anh xe kéo nói chuyện với nhau hồi nãy. Mà bây ở
bên Bến Tre qua đây làm gì có bà con với ai không?".
Thằng Ðược để va-li xuống
đất rồi thưa rằng:
- Thưa, không biết thầy
tôi có quen với ai không, chớ hai anh em tôi thiệt không có quen với ai bên nầy
hết.
- Ủa? Nếu bây không quen,
bây giờ thầy bây bị giam, bây làm sao?
- Thưa tôi muốn kiếm nhà gởi
đồ và xin ngủ nhờ ít bữa, chờ thầy tôi ra rồi sẽ hay chớ biết làm sao.
Vả người đàn bà ấy góa chồng
có một đứa con gái trạc chừng bằng con Liên mà cũng trắng trẻo ngộ nghĩnh như vậy,
năm ngoái rủi đứa con gái đau rồi chết đí, nên từ ấy đến nay rầu buồn thương nhớ
hoài. Nay gặp con Liên bỗng nhớ đến con, nên đứng nhìn nó một hổi rồi nói rằng:
"Nếu hai đứa bây không có quen với ai, thôi thì vô nhà tao mà ở".
Thằng Ðược với con Liên
bèn xách đồ đi theo người đàn bà ấy. Ra khỏi chợ, quẹo qua tay mặt đi một đỗi
xa xa, tới một dãy phố ngói cũ người đàn bà ấy ghé vô một căn phố, lấy chìa
khóa trong túi ra mở cửa, rồi biểu hai đứa nhỏ vô. Thằng Ðược dòm coi trong nhà
thì thấy ván giường xịch xạc lem luốc chẳng có vật chi quý mà trong nhà lại có
trữ xoài thơm, lớp sắp trên Ván, lớp đổ dưới đất. Người đàn bà ấy thấy thằng Ðược
ngó trước xem sau thì cười mà nói rằng: "Tao ở có nuột mình, không có ai hết.
Tao bán đồ hàng bông ngoài chợ, hễ đi bán thì tao khóa cửa, gởi cho lối xóm họ
coi chừng nhà giùm. Thôi bây ngồi đó chơi để tao đi nấu cơm ăn".
Thằng Ðược nói rằng nó với con Liên đã ăn cơm
rồi; nó mới gởi đồ và để con Liên ở nhà, rồi nó cầm gói bánh mì lạp xưởng đem
xuống bót đặng cho thầy nó ăn. Nó đi tới cửa bót, muốn vô mà không dám, nên ngồi
trước đường cứ chong mất mà ngó vô hoài. Ðến chạng vạng tối có một người đàn bà
ở trong bót dắt con đi ra, nó liệu chắc là vợ con lính trong bót nên chạy lại
năn nỉ mượn đem bánh giùm vô cho thầy nó ăn. Người đàn bà ấy thấy thằng nhỏ ăn
nói dễ thương nên xiêu lòng, mới lấy gói bánh đem vô trong bót.
Thằng Ðược trở về trong bụng
mưng thầm, chắc đêm nay thầy khỏi đói. Nó mừng rồi lại nghĩ rằng không biết người
ấy lãnh gói bánh rồi mà có đem đưa tới tay thầy hay không, hay là đem vô rồi
đưa cho thằng con ăn thì mình mất tiền mà không ích chi cho thầy hết. Nghĩ như
vậy rồi nó vùng tức cưa vì nó nói thầm rằng: "Ở đời mình chưa chắc người
ta làm quấy mà mình nghi cho người ta như vậy thì là mình quấy trước".
Nó trở về đến nhà thì chủ
nhà đương ăn cơm. Nó thuật chuyện gởi bánh cho con Liên nghe rồi con nọ cứ theo
hỏi nó vậy chớ thầy bị giam mà có hại chi hay không. Nó nói không hại, mà con nọ
cũng cứ theo hỏi hoài. Chủ nhà ăn cơm rồi mới đóng cửa tắt đèn mà ngủ. Ðêm ấy
hai đứa nó thao thức hoài ngủ không được bao nhiêu. Trời hừng sáng chủ nhà thức
dậy rồi mở cửa sửa soạn gánh xoài với thơm ra chợ mà bán. Hai đứa nhỏ cũng thức
dậy rửa mặt rồi dắt nhau đi lại trước cửa bót ngồi mà chờ, coi chừng ông Cò có
giải thầy Ðàng qua tòa thì đi theo mà hỏi thăm.
Hai đứa nhỏ ngồi chờ đến
chín giờ thấy ông Cò trong bót đi ra, kế đó thì thầy Ðàng, rồi sau rốt thì chú
bếp hôm qua đó, mà chú lại ôm một cuốn sổ, chớ không có cầm roi mây nữa. Con
Liên thấy thầy thì nước mắt tuôn dầm dề. Thầy Ðàng thấy hai đứa nhỏ liên hỏi rằng:
"Tử hôm qua đến nay bây ở đâu?". Thằng Ðược thưa rằng: "Thưa,
con kiếm nhà họ con gởi đồ và ở đậu. Không sao đâu, thầy đừng lo".
Ông Cò nghe nói chuyện bèn
day lại rầy om sòm, thầy Ðàng cũng thả lời với ổng, song hai người nói tiếng
Tây nên hai đứa nhỏ không biết nói chuyện gì. Thằng Ðược nắm tay con Liên dắt
đi theo, coi ông Cò đem thầy đi đâu cho biết và có ý muốn hỏi coi hồi hôm thầy
có tiếp được gói bánh mì hay không, nào dè hễ đi lại gần thì chú bếp rầy la, biểu
phải đi dang ra hoài nên hỏi chuyện chi cũng không được.
Qua tới tòa, quan Biện lý
chưa ra khách, ông Cò để thầy Ðàng với chú bếp ở ngoài, còn ổng vào trong bàn
quan Lục sự mà nói chuyện. Thằng Ðược thấy vậy mới dắt con Liên men men đi lại
gần. Thầy Ðàng có sắc buồn. Thầy kêu thằng Ðược mà nói rằng: "Ông Cò ổng
buộc tội tao đánh lính, mà không hại gì, đến tòa ai phải quấy sẽ biết. Tao buồn
có một điều là tao bị bắt buộc đây tao bỏ bây bơ vơ tội nghiệp mà thôi. Ðã vậy
mà hôm qua lộn xộn tao làm rớt cái bóp, bây giờ trong lưng không còn một đồng
tiền.
Con Liên nghe nói càng
khóc hơn nữa. Thằng Ðược tuy trong lòng buồn bực khó chịu lắm, nhưng mà ngoài mặt
tỉnh táo như thường. Nó nói cứng cỏi rằng: "Xin thầy đứng có lo cho hai
con; con kiếm ăn được không sao đâu mà sợ, miễn thầy ra được thì thôi. Hồi hôm
thầy có được ổ bánh mì với cặp lạp xưởng hay không". Nói vừa tới đó ông Cò
bước ra. Thầy Ðàng gật đầu rồi đi theo ông Cò vào phòng quan Biện lý.
Hai đứa nhỏ ở ngoài nghe
trong phòng quan Biện lý nói om sòm một hồi, rồi có một tên lính hầu dắt thầy
Ðàng ra. Thầy Ðàng vừa đi tới chỗ hai đứa nhỏ đứng thì nói rằng: "Quan Biện
lý dạy đem tao vô khám mà giam, đặng mai mốt giải tao qua tòa cho quan Chánh
Tòa xử. Thôi bây xin ở đậu mà chờ tao. Ðừng có khóc, vài bữa đây tao ra, không
hại gì đâu mà sợ".
Hai đứa nhỏ nghe nói đứng
chết điếng trong lòng, cứ khóc rồi ngó theo, chớ không nói chi được hết. Cách một
hồi lâu nới dắt nhau về nhà ở đậu đó. Vô đến cửa thì cửa khóa. Chúng nó dắt
nhau ra chợ, mua một cắc bạc cơm với cá mà ăn, rồi trở về ngồi ngoài cửa than
thở với nhau, tính tới tính lui, không biết làm sao mua cơm đem cho thầy ăn được.
Ðến trưa tan chợ, chủ nhà
gánh gánh không đi về. Vô tới cửa thấy hai đứa nhỏ ngồi khóc thì chỉ hỏi thăm,
chừng nghe rõ đầu đuôi rồi chỉ mới nói rằng: "Hễ tòa giam trong khám thì
có cơm của nhà nước bây khỏi lo". Hai đứa nghe nói như vậy thì bớt lo
nhưng hễ nghĩ tới phận thầy mắc vòng lao lý thì giọt lụy tuôn rơi, dầu thấy việc
chi vui cũng không cười, dầu ăn vật chi ngon cũng không muốn. Chị chủ nhà nấu
cơn rồi dọn ra biểu hai đứa nhỏ ăn, thì chúng nó từ chối hoài không chịu ăn cứ
nói ơn đùm đậu ơn đã nặng nề rồi, nếu còn làm tốn hao cho chử nhà nữa thiệt là
chúng nó không dám.
Ðến 2 giờ chiều thằng Ðược
biểu con Liên ở nhà để nó lên tòa dọ nghe tin tức của thầy coi thể nào. Nó đứng
xẩn bẩn trước tòa cho đến tan hầu mà không nghe chi hết. Nó lần trở trở
về, tính dắt con Liên ra chợ ăn cơm, vì trong túi còn được ba cắc bạc, chẳng dè
về nhà thì chị chủ nhà ép quá nên con Liên đã ăn cơm rồi; mà chỉ lại có để dành
cơm cho nó nữa, thấy nó về chị ép riết, túng thế nó phải ăn.
Ðêm ấy thằng Ðược nằm suy
nghĩ tới phận riêng thì buồn nát ruột. Khi ở nhà Ba Thời tuy bị tên Hữu hành hạ,
song dầu thể nào có mẹ chở che; khi mới đi theo thầy Ðàng tưởng là thân này phải
pha bụi vùi bùn, nào có dè đâu người đã đem lòng thương yêu mà lại ra công dạy
dỗ nữa. Tuy đã biết Ba Thời không phải là mẹ ruột nhưng mà mẹ là ai đâu không
thấy, duy thấy có một mình Ba Thời là người nuôi mình cho nên vai nên vóc; cha
là đâu không biết, duy có biết thầy Ðàng là người dạy mình lẽ chánh lẽ tà; anh
em không biết có hay không duy bậu bạn với con Liên đã gần bốn năm nay nên yêu
thương như em ruột. Cái vòng thân ái của mình chỉ gồm có ba người mà thôi. Có
khi thấy trẻ nhỏ trang lứa với mình đi chơi với cha mẹ chúng nó, thi trong lòng
cũng hơi bứt rứt, thầm mong cho sum hiếp với cha mẹ đặng vui hưởng thú gia
đình. Mà mẹ cha là ai đâu? Hỏi như vậy rồi mỉm cười không để ý đến nữa.
Nghĩ việc xưa rồi mới nghĩ
đến việc nay: Hiện bây giờ đây trong ba người mình yêu thương, mà ba người ấy
cũng yêu thương mình, một người thì ở xa, một người thì mắc cạn, duy còn một
con Liên mà thôi. Mình không thế nào mà cậy nhờ người không có ở xa, cũng không
thế nào mà giúp đỡ ngươi mắc cạn được, vậy thì mình phải lo mà bảo bọc cho con
Liên. Trong túi bây giờ còn có ba cắc bạc, ví như nay mai đây thầy thoát nạn được
thì không hại gì, chớ nếu thầy phải bị giam cầm đến mười bữa, hoặc nửa tháng,
thì thân mình đây biết có cơm mà ăn hay không, còn con Liên nữa biết làm sao mà
bảo bọc cho nó được.
Thằng Ðược nghĩ đến đó thì
lo sợ hết sức. Nó tính đi tính lại đến gần nửa đêm mà không biết làm thế nào
cho có cơm đủ hai đứa ăn đặng chờ thầy. Ngoài đường vắng vẻ trong nhà im lìm, một
lát nghe trống nhà làng trở canh, rồi sau bếp chuột cạy nồi lộp cộp. Thằng Ðược
ngồi dậy thấy con Liên cựa mình, nó mới nắm tay kêu thức dậy rồi nói nhỏ rằng:
"Nầy em, qua tính sáng mai hai anh em mình xách đờn đến nhà mấy thầy rồi
qua đờn em ca đặng cho họ nghe, hoặc may họ có cho tiền mua cơm mà ăn, chớ qua
còn có ba cắc bạc, ăn chừng một vài ngày nữa hết rồi làm sao". Con Liên gật
đầu rồi đáp rằng: "Anh tính thế nào cũng được".
Thằng Ðược thấy em chịu
thì trong bụng mừng thầm, nên nằm xuống ngủ liền không còn lo sự hết tiền đói bụng
nữa.
Chương 5
Sáng bữa sau con Liên thì
xách đờn cò, còn thằng Ðược thì ôm đờn kìm, đi theo chị chủ nhà ra chợ, rồi từ
giã mà lên tòa, đặng đón coi có gặp mặt thầy hay không. Hai đứa đón đến tan hầu
mà không thấy, bèn dắt nhau trở về. Ði ngang một dãy phố, dòm hai căn đều chưng
dọn rực rỡ, nên hai đứa nghi là chỗ mấy thầy thông ở, nên ngồi dựa dốc cây gáo
mở đờn ra rồi thằng Ðược thì đờn cò, còn con Liên thì đờn kìm và ca. Lên dây vừa
rồi, trẻ nhỏ vừa bu lại, con Liên vừa mới cất giọng lên mà ca bản hành vân,
thình lình chú bếp phía đàng chợ đi lại, cầm roi mây rượt quất, trẻ nhỏ chạy la
om sòm, con Liên với thằng Ðược thấy vậy thất kinh nên cũng lật đật ôm đờn mà
chạy, mặt mày tái lét.
Hai đứa dắt nhau đi về, dọc
đường con Liên nói với thằng Ðược rằng: "Không được đâu anh. Em sợ lính
quá, em không dám ca nữa đâu". Thằng Ðược ứa nước mắt, lầm lủi mà đi không
nói chi hết. Về nhà thì chị chủ nhà đã về rồi, chỉ dọn cơm biểu hai đứa ăn với
chỉ. Thằng Ðược bước lại khoanh tay mà thưa rằng: "Thưa thím, hai cháu đi
với thầy, đến đây thầy cháu rủi bị quan bắt cầm tù, hai cháu bơ vơ, không biết
đâu mà nương dựa, thím có lòng tốt cho hai cháu ở đậu, thiệt hai cháu đội ơn
thím rất nhiều. Bụng cháu không muốn làm cho tốn cơm tốn gạo của thím, nên
trong lưng cháu đã hết tiền rồi, cháu tính đi đờn ca cho họ nghe đặng họ cho tiền
mà ăn cơm. Chẳng dè lính ở đây hung quá, mà bộ ghét hai cháu hay sao, nên cháu
đờn ca họ rượt mà đánh, cháu nghĩ cùng thế rồi, không biết làm sao cho có tiền
mua cơm mà ăn được. Vậy cháu phải tỏ thiệt với thím, xin thím để cháu gánh đồ
cho thím đi bán, rồi thím cho hai cháu ăn cơm, tốn hao của thím bao nhiêu chừng
thầy cháu ra rồi cháu sẽ xin tiền mà trả lại cho thím".
Buổi hầu nào thằng Ðược
cũng lên đứng trước cứa tòa mà chờ thầy Ðàng, lại hễ sáng thì nó xin gánh xoài
ra chợ cho chủ nhà; mà chủ nhà không cho. Hai đứa ở đậu được bốn bữa đến ngày
thứ năm thằng Ðược cũng chực tại cứa tòa như mấy ngày trước. Nó vừa tới đó thì
thấy lính dắt thầy Ðàng đi vô tòa. Nó bèn chạy theo mà hỏi rằng: "Hổm nay
thầy có ăn cơm hay không vậy thầy?". Thầy Ðàng gật đầu rồi hỏi lại rằng:
"Con Liên đâu?". Thằng Ðược đáp rằng: "Nó ở nhà". Thầy gật
đầu rồi bước vô tòa không nói chuyện chi nữa được.
Thằng Ðược đứng ngoài dòm
vô một hồi thấy mấy ông tòa mặc áo rộng đen đầu đội mão cũng đen, ngồi nói với
nhau. Một lát thấy chú bếp hôm nọ lên đứng thưa việc chi với tòa đó không biết
rồi thầy Ðàng cũng lên đứng mà nói nữa. Thằng Ðược đứng coi gần một giờ đồng hồ
xảy có hai người ở trong tòa bước ra, một người mặc đồ tây, một ngườì mặc áo
dài bịt khăn đen, người mặc đồ tây nói với người kia rằng: "Ông đó bị kêu
án nửa tháng tù tội nghiệp quá há? Ổng nói tiếng Tây giỏi, ổng cãi nghe sướng
quá, mà cũng không khỏi. Chớ chi thằng cha bị đánh hôm đó ra làm chứng cho ổng
thì chắc tòa tha, ngặt ổng binh nó mà rồi nó đi mất nên bây giờ ông còn chứng cớ
chi mà đối nại.
Thằng Ðược nghe nói mấy lời
nghĩ là họ nói chuyện thầy mình, nên mặt mày tái xanh, lo sợ hết sức. Nó muốn
chạy theo mà hỏi thăm cho rõ ràng, song sợ đi rồi chừng thầy ra không gặp mặt
thầy, nên cứ đứng ngoài dòm vô, thấy thầy ngồi trong mặt buồn xo một lát ngó ra
ngoài thấy nó thì lại chau mày, bộ suy nghĩ trong trí lắm. Nó đứng vái thầm cho
tòa tha thầy nó đặng thầy trò xum hiệp với nhau. Nó lại tính hễ tòa tha thầy nó
rồi thi nó xin thầy nó mau mau đi đến xứ khác, chở đừng thèm ở Trà Vinh nữa.
Nó đương suy nghĩ, bỗng thấy
trong tòa ngươi ta kéo nhau đi ra. Nó đứng nép một bên, họ ra hết rồi thì tới một
tên lính dắt thầy Ðàng với hai ba người nữa đi sau. Thầy Ðàng thấy thằng Ðược
liền lấy tay ngoắc nó biểu đi theo. Ra khỏi cửa tòa rồi thầy mới nói với nó rằng:
"Thầy bị kêu án mười lăm ngày tù mà thầy tính cũng không kháng án làm gì.
Vậy cháu dắt con Liên hỏi thăm đường mà lên Càng Long kiếm nhà ông Hội đồng Sáu
đến mà tỏ việc của thầy cho ổng rõ rồi xin ở đậu đó mà chờ thầy. Bữa mười tám
thì thầy ra, không sao đâu mà sợ". Thằng Ðược nghe nói thì khóc muồi, nên
thầy dặn nó không nhớ chi hết. Nó đi theo tới cửa khám, thấy lính dắt thầy nó
vô rồi khép cánh cửa sắt lại kêu một cái ầm, không còn thấy thầy nó nữa thì nó
đứt ruột nát gan, nước mắt dầm dề, đau đớn không xiết kể.
Nó thủng thẳng đi vòng
theo vách tường chung quanh khám, dường như đứa dại đứa ngây. Ði đến trưa mỏi cẳng
đói bụng, nó nhớ sực đến con Liên mới lần bước trở về nhà. Vừa tới cửa nó thấy
con Liên đứng đó liền nói rằng: "Không xong rồi em! Thầy bị án mười lăm
ngày tù". Nó vừa nói tới đó, bỗng trong nhà có tiếng người đồng khóc nó
không hiểu là ai. Chừng hỏi thăm con Liên nó nói rằng có tin cho kêu chị chủ
nhà nói cha chỉ ở dưới Trà Cú đã chết rồi, thì thằng Ðược đứng sửng sốt. Nó lật
đật chạy vô hỏi thăm thì chị chủ nhà cũng thuật y như lời con Liên mới nói với
nó đó vậy. Thằng Ðược thầm nghĩ mình đã bị hoạn nạn mà gặp người cũng bị nữa,
thì ngao ngán trong lòng, nên ngồi thở ra không nói chi được hết.
Chị chủ nhà dọn cơm ăn rồi
hỏi nó vậy chớ tòa đã xử vụ thầy nó hay chưa. Nó thuật chuyện thầy nó bị nửa
tháng tù cho chỉ nghe và nói ngày mười tám thầy nó mới ra được, Chị chủ nhà nói
rằng bây giờ chỉ phải về Trà Cú lập tức đặng lo báo hiếu cho cha và hỏi hai đứa
ờ nhà một mình có được hay không. Thằng Ðược nghĩ thầm trong bụng nếu mình ở
đây lấy cơm đâu mà ăn, mà nếu biểu chị mua gạo để lại ở nhà thì phải mang ơn chỉ
nhiều lắm. Huống chi chỉ trong nhà không giàu chi đó, mà lúc này chỉ lại bị tai
họa như vậy, không lẽ mình còn làm tốn hao cho chỉ nữa. Nghĩ kỹ rồi nó mới thưa
rằng: "Thưa thím, hổm nay hai cháu mang ơn thím rất nhiều nay thím có việc
nhà lẽ thì hai cháu phải ở đây mà coi nhà giùm cho thím. Ngặt thầy cháu có dạy
phải lên Càng Long mà báo tin cho anh em bạn của thầy cháu hay bởi vậy cháu sợ ở
đây không tiện".
Chị chủ nhà nói rằng:
"Không, việc coi nhà không cần gì cho lắm; nhà tao không có vật chi cho
đáng, như hai đứa bây mắc việc phải đi, thì tao khóa cửa gởi cho lối xóm họ coi
chừng giùm cũng được".
Ăn cơm rồi chị chủ nhà coi
trong nhà có món chi tốt thì dọn đem gởi cho lối xóm, còn thằng Ðược với con
Liên thì gói mấy túi đờn. Thu Xếp xong rồi mới xách gói ra đi. Chị chủ nhà khóa
cửa rồi lấy ra năm cắc bạc đưa cho thằng Ðược mà nói rằng: "Ðường từ đây
lên Càng Long thì xa, không biết bây đi tối có tới hay không. Vậy thì bây lấy mấy
cắc bạc đây mà bỏ hờ trong lưng, đặng như kiếm nhà quen không được, thì mua cơm
mà ăn đỡ ít bữa". Thằng Ðược chối từ hoài, không dám lãnh tiền, rồi từ giã
nhau ra đi.
Lối nửa chiều, gió thổi
lao xao, nắng đã dịu bớt; đường Trà Vinh đi Vĩnh Long có nhiều khúc ngay bót,
mà hai bên đường cây cỏ xanh tươi. Dưới ruộng thì nông phu chỗ cày chỗ gieo,
còn trên đường xa xa có một người che dù mà đi, coi bộ huỡn đãi lắm.
Thằng Ðược tay xách va-lì,
tay ôm cây đờn kìm, còn con Liên thì tay xách đờn cò vai vác đờn tranh chậm chậm
mà đi, hễ mỏi cẳng mỏi tay thì để đồ dựa bên đưòng ngồi nói chuyên với nhau, bỗng
có mót cái xe hơi chạy ngang qua bụi bay mù trời, hai đứa lật đật đứng nép bên
dựa gốc cây mà tránh. Thằng Ðược thấy trên xe phía trước thì có một mình người
coi máy, còn phía sau có một đưa con trai chừng chín mười tuổi ngồi mà thôi, nó
mới ước phải chi xe đó họ cho mình lên ngồi nhờ thì là khỏe khoắn lắm. Hai đứa
xách đồ đi nữa. Ði được một khoảng lại gặp một người ở trước mặt đi lại, thằng
Ðược bèn hỏi thăm coi đã gần tới Càng Long hay chưa. Người ấy nói rằng còn chín
ngàn thước nữa; nếu đi giỏi thì chạng vạng còn đi chậm thì hết nửa canh một mới
tới.
Thằng Ðược nghe giựt mình
bởi vi hai đứa mắc xách đồ nên đi mau không được, mà đi chậm như vậy, rủi nửa
đường trời tối liệu thể nảo. Nó bèn day lại mà nói với con Liên rằng: "Hổm
nay nhờ chị chủ nhà cho ăn cơm nên ba cắc bạc qua còn nguyên trong tủi đây bậy
quá! Hồi trưa đi ngang chợ quên mua một ổ bánh mì đem theo, bây giờ lỡ tối giữa
đường lấy gì mà ăn". Nói như vậy rồi ngó con Liên thấy nó có sắc buồn, thằng
Ðược liền nó tiếp rằng: "Qua tính như vầy em nghĩ thử coi có được hay
không. Mình ráng đi tới xóm trước kia mình ghé xóm mua cơm ăn rồi kiếm nhà xin
ngủ nhờ đỡ một đêm nay; sáng ngày mình sẽ đi nữa, chớ bây giờ trời đã gần tối rồi
mà đường còn xa, qua sợ đi không kịp. Ðã vậy mà thầy dặn lên kiếm nhà ông Hội đồng
gì đó qua quên tên rồi, qua nhớ có tiếng Càng Long với tiếng Hội đồng mà thôi,
nếu lên đến đó ban đêm thì làm sao hỏi thăm được".
Con Liên đã mỏi chơn, xách
đờn đã mỏi tay mà lại đói bụng nữa, nên nghe thằng Ðược nói như vậy thì chịu liền.
Hai đứa lần tới xóm, thằng Ðược thấy dựa bên đường có một cái nhà lá tuy nhỏ mà
cao ráo sạch sẽ trước nhà có trồng bông trồng kiểng, sau hè có trồng chuối trồng
cau, ở nhà bếp lại có khói lên ngui ngút, nó bèn ghé lại đó. Bước vô sân thì
nghe trong nhà có tiếng người ca bản tứ đại cảnh.
Hai đứa vừa tới cửa, có một
con chó vàng trong nhà chạy ra sủa vang rân. Hai đứa sợ chó cắn nên đứng lại,
con Liên thì đứng nép sau lưng thằng Ðược. Trong nhà liền có một người đi ra,
tuổi chưa đầy ba mươi mặc quần lãnh đen, áo ba ba lụa trắng, chơn đi dép Bắc,
răng trắng, nước da cũng trắng, đầu bới tóc vẻn vang, hỏi hai đứa nhỏ rằng:
"Hai đứa bây đi đâu?" Con chó cứ sủa hoài, người ấy phải la nó hai ba
tiếng nó mới chịu chạy vô. Thằng Ðược hết sợ chó nữa mới để va-li với túi đồ xuống
đất rồi vòng tay mà thưa rằng: "Thưa cậu em chẳng giấu chi cậu, em đi với
thầy em, rủi thầy em có việc ở dưới Trà Vinh nên sai hai em lên Càng Long. Em tới
đây trời gần tôi rồi, mà nghe nói đường còn xa lắm nên em ghé đây xin cậu làm
phước như ăn cơm còn dư cho em nài đỡ một cắc đặng hai đứa em ăn đỡ dạ, và cho
em ngủ nhờ một đêm rồi khuya em đi".
- Bây nói bây đi với thầy
mà thầy nào đó?
- Thưa thầy Ðàng.
- Thầy Ðấng nào ở
đâu ?
- Thưa, thầy Ðàng ở Cần Ðước.
- Thầy Ðàng đờn hay lắm phải
không?
- Thưa phải.
- Tao nghe cậu Ba nói ở Cần
Ðước có thầy Ðàng đờn tươi lắm Mà bây giờ thầy ở đâu, mà sai bây đi đây.
- Thưa, thầy tồi bị ở tù
dưới Trà Vinh
- Vậy sao? Tội nghiệp dữ
hôn! Thôi vô đây.
Thằng Ðược với con Liên
xách đồ vô nhà. Người ấy kêu vợ nấu cơm nhiều nhiều một chút đặng cho hai đứa
nó ăn với. Thằng Ðược dòm trên vách thấy có treo đờn cò đờn kìm, đờn tam, đờn
gáo, còn trên bộ ván phía đàng chái lại có để một cây đờn tranh. Nó mới đem
va-li với mấy túi đờn mà để dựa vách. Chủ nhà thấy xách đồ đùm đề bèn hỏi coi
xách mấy túi gì đó. Thằng Ðược nói là túi đờn. Người ấy nghe nói chưng hửng rồi
hỏi rằng: "Em biết đờn hay không?" Thằng Ðược chúm chím cười rồi nói
nó với con Liên đều biết đờn cả hai.
Chủ nhà bộ mừng quá, lật đật
biểu hai đứa lên ván mà ngồi, hỏi đứa nào đờn cây nào, rồi mới lấy cây kìm đưa
cho thằng Ðược, lấy cây tranh đưa cho con Liên, còn anh ta chì cầm cây cò mà
nói rằng: "Qua biết đờn mà xóm này không ai biết, nên không hòa chơi với
ai được hết. May gặp hai em, thôi đờn ít bản chơi rồi sẽ ăn cơm".
Ba người đờn bốn bản bắc rồi
mới sang qua dây oán. Thằng Ðược biểu con Liên vừa đờn vừa ca, chủ nhà đắc ý vô
cùng, mà người vợ ở sau bếp có lẽ cũng vui hay sao nên lên đứng mà nghe rất
lâu. Ðờn đến cơm dọn ra rồi mới chịu nghỉ mà ăn. Ăn cơm rồi nói chuyện chơi đến
đốt đèn rồi ráp lại đờn nữa. Trong xóm người lớn trẻ nhỏ tựu tới nghe đông nức.
Ðờn đến hết canh một con Liên buồn ngủ quá mới chịu dẹp mà đi ngủ.
Rạng ngày hai đứa thức dậy
tính đi cho sớm. Chủ nhà cầm lại hoài biểu để ăn cơm rồi sẽ đi. Chừng hai đứa
ra đi chủ nhà mới hỏi rằng:
- Hai em lên Càng Long mà
lên nhà ai ?
- Thưa, thầy em biểu lên
nhà ông Hội đồng mà em quên tên nên không biết Hội đồng nào
- Ở Càng Long có một mình
Hội Ðồng Sáu, chớ có Hội đồng nào nữa đâu.
- Thưa, phải rồi Hội đồng
Sáu. Vậy mà hổm nay em quên chớ.
- Thôi hai em đi đi, bận về
ghé đây chơi nghe hôn.
- Dạ.
Hai đứa đi đỏ mặt trời đứng
bóng mới tới Càng Long. Chúng nó hỏi thăm nhà Hội đồng Sáu mà vào thì thấy nhà
cửa nguy nga, vựa lúa rất to bạn bè đông đảo. Thằng Ðược bước vô thấy thằng nhỏ
ngồi xe hơi hôm qua đương đứng chơi trước cửa thì chưng hửng. Nó để con Liên ở
ngoài, nó vô tỏ hết đầu đuôi chuyện thầy Ðàng bị tai nạn cho ông Hội đồng nghe,
thì ổng chẳng có chút chi buồn mà lại buông lời nói rằng: "Thầy cứ làm bậy
hoài. Thầy ở tù thì ở, chớ tao biết sao bây giờ".
Thằng Ðược đi dọc đường thầm
tưởng ông Hội đồng là anh em bạn với thầy mình lên nói cho ổng hay chắc ổng xuống
Trà Vinh mà lo cho thầy mình khỏi tội, mà nếu ổng lo không được thì ít nữa ổng
cũng nuôi mình và cũng đi thăm thầy chớ chẳng không, nào dè cực nhọc em đến đây
mà cho ổng hay, rồi ổng nói xuôi xị như vậy thì còn trông cậy gì nữa. Thằng Ðược
buồn ý muốn dắt con Liên mà đi, song nó nghĩ nếu mình đi bây giờ biết đi đâu,
nên cực chẳng đã nó phải ơ nán lại coi ổng tính lẽ nào.
Hai đứa để đồ ngoài hàng
tư rồi xẩn bẩn trước sân mà chơi. Ðến chiều trong nhà dọn cơm ăn, mà không thấy
ai ra biểu ăn cơm.
Lúc chạng vạng tối có một
người đàn bà đầu bịt khăn trùm, áo xăn ngang lưng cầm chổi ra quét sân thấy hai
đứa liền nói lớn lên rằng: "Cơ khổ dữ hôn, hai đứa nhỏ hồi trưa đến bây giờ
còn đây mà bầy trẻ ăn cơm không kêu nó ăn với chớ! Vậy đây em, đi vô ăn cơm với
bầy trẻ kia kìa".
Thằng Ðược không muốn ăn
chút nào, ngặt nó sợ con Liên đói nên cực chẳng đã phải đi ăn. Vô nhà bếp thấy
năm sáu tên bạn đương ngồi ăn cơm. Ngươi đàn bà lấy chén đũa đưa cho hai đứa rồi
biểu lên ngồi mà ăn. Ăn cơn rồi người ấy lại biểu xách đồ đem để trên ván nhà
sau rồi vô đó nằm mà ngủ.
Hai đứa nằm coi bạn bè giã
gạo, ngoài sân mưa gió ồ ào. Trên nhà trên đèn đốt sáng trưng hai vợ chồng ông
Hội đồng giỡn với thằng con cười ngả nghiêng ngả ngửa. Thằng Ðược bị trời lạnh
ngủ không được, nằm suy nghĩ cuộc đời mà chua xót trong lòng. Thiệt nó chẳng
phiền trách ông Hội đồng, song chẳng biết vì cớ nào trong lòng nó buồn mà lại
giận lắm.
Ðến sáng nó kêu con Liên
thức dậy rồi biểu nhỏ biểu sửa soạn mà đi. Con Liên gật đầu rồi kiểm đồ đạc. Thằng
Ðược nghe tiếng ông Hội đồng nói om sòm trên nhà trên nó mới lên thưa với ổng
mà đi. Ổng ừ lặng thinh, chớ không thèm hỏi đi đâu nữa. Hai đứa ra ngoài đường
rồi con Liên mới hỏi thằng Ðược rằng:
- Mình đi đâu bây giờ anh?
- Ði đâu cũng được, miễn
là đi cho khỏi cái nhà nầy thì thôi.
- Ừ em cũng không muốn ở
đó nữa!
Hai đứa ra đến ngã ba, đứng
nhắm biết đường đi xuống là đường Trà Vinh, còn đi lên thì không biết đi đâu.
May lúc ấy có một người đi ngang qua. Thằng Ðược hỏi thăm thì họ nói đường đi
lên đó là đương đi Vũng Liêm, Vĩnh Long. Nó bèn bàn tính với con Liên rồi dắt
nhau đi lên Vũng Liêm.
Trót bảy tám ngày hai đứa
nó xách đồ mà đi lưu linh nay đờn nhà này, mai ca nhà nọ, chỗ cho ăn cơn, chỗ
cho ngủ đậu, người cho bánh trái, kẻ cho đôi quang, hai đứa nó đắp đỗi qua
ngày, tuy là thân mệt nhọc cực khổ nhưng mà khỏi bị khinh khi nhục nhã. Chúng
nó ở chợ vũng Liêm lần lên Nước Xoáy.
Lên tới kinh Mang Thít là
ngày rằm Việt Nam. Thằng Ðược nhớ sực lời thầy bữa mười tám thầy ra, nên tính sẽ
trở vễ TràVinh mà đón thầy. Lúc ấy trong lưng nó có được hơn hai đồng bạc, vì
nó đờn ca ai cho tiền thì nó nua bánh chút đỉnh cho con Liên ăn mà thôi chớ nó
không dám xài. Trời vừa xế qua, hai đứa đi tới mé kinh Mang Thít, thấy có một
nhà bốn phía không có vách mà chính giữa lại có lót một bộ ván dầu. Chúng nó
đem đồ vô đó rồi lên ván nằm mà nghỉ chơn.
Trời gió hiu hiu, nước dưới
kinh chảy cuồn cuộn. Ngó qua mé kinh bên kia thấy có một chiếc ghe hầu bốn
chèo, mui sơn xanh, đương đậu tại đó, bạn lụi hụi đứa tát nước, đứa nấu cơm. Một
lát có một chiếc tàu dắt một đoàn ghe chài đến gần hai mươi chiếc, chạy ngang
thổi xúp-lê nghe inh ỏi. Thằng Ðược hứng chí biểu con Liên mở đờn tranh ra còn
nó lầy đờn kìm rồi hai đứa đờn ca chơi. Ghe đi ngang qua ai nghe cũng đều ngơ
chèo mà ngó.
Hai đứa đờn được vài bản
thì thấy chiếc ghe hầu nhổ sào chèo qua rồi đậu ngay cái nhà trống chỗ hai đứa
nó ngồi đó. Thằng Ðược vừa đờn vừa ngó chừng chiếc ghe hầu thấy bốn tên bạn đứa
đứng, đứa ngồi, mà đứa nào cũng chăm chỉ mà nghe đờn, còn trong mui thì có một
người đàn bà, trạc chừng bốn mươi lăm tuổi mặc áo lụa trắng, quần lãnh đen, ngồi
với một đứa con trai chừng mười tuổi, cũng mặc áo quần trắng, ôm mền ngồi, mặt
mày buồn hiu. Hai đứa đờn ca một hồi rồi buông đờn nằm mà nghỉ. Người đàn bà ở
dưới ghe hầu kêu tên bạn ngồi trước mũi mà dạy việc chi đó nghe không rõ, mà thấy
tên bạn ấy lật đật lẩy tấm đòn dày[1] bắc lên mé kinh rồi leo lên bờ. Hai
đứa không hiểu có việc chi nên lồm cồm ngồi dậy, kế tên bạn bước vào mà nói rằng:
"Nầy, hai em, bà Hội đồng nghe hai em đờn hay nên biểu qua lên nói với hai
em đi xuống ghe đờn cho bà với cậu Ba nghe chơi một hồi rồi bà cho tiền ăn
bánh, Thằng Ðược nghe nói liền cười chúm chím mà đáp rằng: "Ðược chớ! Mà
bà Hội đồng nào đâu đó vậy anh?". Tên bạn nói: "Bà Hội đồng này ở bên
Cần Thơ đem con đi uống thuốc trên Sài Gòn". Thằng Ðược với con Liên xách
đàn rồi đi theo tên bạn mà xuống ghe. Bà Hội đồng thấy hai đứa lần tấm đòn dày
mà đi xuống, thì bồng con ngồi sụt vô trong, rồi kêu mà biểu hai đứa nó đem đờn
bước ngay vô mui. Bà ngồi ngó hai đứa trân trân, còn thằng con bà thấy hai đứa
lên dây đờn sửa soạn mà đờn thì trong lòng hớn hở ngoài mặt vui mừng, chớ không
còn buồn xo như hồi nãy nữa. Hai đứa ngồi đờn, con Liên ca một hồi mệt rồi thằng
Ðược tiếp mà ca. Bà Hội đồng ngồi nghe rất vui vẻ trong lòng mà nhứt là thằng
con bà cười hoài, dường như thuở nay mới nghe đờn lấn thứ nhứt vậy.
Hai đứa đờn ca hơn nửa giờ
đồng hồ, bà Hội đồng sợ nó mệt nên biểu nghỉ, rồi mở một cái tủ nhỏ, lấy ra một
hộp bánh biểu hai đứa ăn. Con Liên mắc cỡ không chịu ăn. Thằng con bà Hội đồng
nãy giờ nằm đắp mền mà nghe đờn, thấy hai đứa không chịu ăn bánh liền tốc mền
ngồi dậy, lấy bánh đưa tới tay con Liên với thằng Ðược mà ép ăn. Hai đứa cực chẳng
đã phải ăn, rồi thằng nhỏ cũng lấy mà ăn nữa. Ba đứa ăn bánh nói chuyện chơi với
nhau coi vui vẻ lắm. Bà Hội đông thấy con vui thì cũng vui trong lòng, mà lại
thấy hai đứa kia ngộ nghĩnh, bà cũng động lòng thương nữa. Bà hỏi thăm coi hai
đứa con ai, nhà cửa ở đâu. Thằng Ðược nói rằng nó gốc ở Gò Công, còn con Liên
thì ở Bà Ria, hai đứa đi theo thầy qua Trà Vinh, rủi thầy bị quan bỏ tù nên hai
đứa phải đi đờn kiếm ăn mà chờ thầy.
Bà Hội đồng nghe nó thì
chưng hửng mà nói rằng:
- Vậy mà qua tưởng hai
cháu nhà ở gần đâu lối đây chớ. Té ra hai cháu không phải anh em ruột hay sao?
Thằng Ðược trả lời rằng:
- Thưa không.
- Bây giờ hai cháu tính đi
đâu?
- Thưa, con tính dắt nhau
trở xuống Trà Vinh đặng đón thầy con, vì còn có ba ngày nữa thầy con mãn tù.
- Tội nghiệp quá? Mới bây
lớn mà lưu lạc bơ vơ như vầy chớ!
Thằng con bà Hội đồng day
qua ôm bà mà nói rằng:
- Má biểu dọn cơm cho anh
và chị đó ăn với con má.
Bà hun con và cười, rồi hối
bạn nấu cơm riết đặng ăn rồi đi cho kịp con nước.
Cơm dọn ra cá thịt canh
rau một mâm vĩ vèo, hai đứa thấy vậy lật đật xếp đờn rồi nói nhỏ nhau tính từ
giã mà đi xuống vũng Liêm cho sớm. Bà Hội đồng biết nên cười mà nói rằng:
"Khoan đã, để ăn cơm no rồi sẽ lên". Hai mẹ con ép riết, túng thế hai
đứa phải ăn. Ăn cơm rồi, trời đã xế chiều, nước rúng ròng mấy tên bạn sửa soạn
chèo đặng lui ghe. Thằng Ðược với con Liên giợm muốn lên bờ, bà Hội đồng liền
móc túi mà cho hai đứa một đồng bạc.
Hai đứa tạ ơn rồi xách đờn
đứng dậy bước ra. Thằng con bà Hội đồng ngó thấy liền khóc rống lên. Hai đứa đứng
khựng lại đó không hiểu tại sao mà nó khóc, còn bà Hội đồng lật đật ôm con mà hỏi:
"Sao vậy con, con có đau bụng hay không?". Thằng nhỏ vừa khóc vừa nói
rằng: "Tôi hỏng chịu! Má làm sao biểu anh với chị đó ở lại dưới ghe mà đờn
ca chơi với con, Má để hai người đó đi lên đây tôi đau nữa đa". Bà Hội đồng
lắc đầu mà nói rằng: "Biểu sao được, con?" Thằng nhỏ vùng ré lên mà
khóc nữa, Bà Hội đồng thấy vậy mới biểu: "Thôi con nín đi, để má biểu nó
đi theo dưới chơi với con".
Thằng nhỏ nghe nói thì nín
khóc. Bà Hợi đồng mới kêu thằng Ðược vô mui rồi biểu hai đứa nó đi theo bà đặng
chơi với con bà muốn bạc tiền bao nhiêu bà cũng cho hết. Thằng Ðược cứ lắc đầu
hoài nó nói rằng ngày mười tám thầy nó mãn tù nên nó phải trở xuống Tra Vinh mà
kiếm thầy. Bà Hội đồng suy nghĩ một hồi rồi tính với thằng Ðược để bà viết thơ
cho thầy thông Sự ở Trà Vinh mà cậy thầy nói lại giùm với thầy Ðàng hay sự hai
đứa nó đi theo bà qua Mỹ Tho và dặn hễ ngày thầy Ðàng mãn tù thì trao cho thầy
mười đồng bạc đặng làm phí lộ qua Mỹ Tho lại đầu cầu quây mà kiếm ghe bà. Thằng
Ðược thấy bà Hội đồng tử tế mà nhứt là thấy con bà trìu mến thì động lòng, nên
nghe tính như vậy thì nó chịu, song nó xin để cho nó viết riêng cho thầy nó một
bức thơ nữa kẻo thầy nó nghi. Bà Hội đồng lấy làm vui lòng nên lật đật lấy giấy
viết ra mà viết một bức thơ nói cặn kẽ cho thầy thông Sự rõ, rồi bà trao giấy
viết cho thằng Ðược viết riêng một bức thơ cho thầy Ðàng nữa mà xin thầy hễ mãn
tù thì lại nhà thầy thông Sự lấy tiền rồi qua Mỹ Tho mà kiếm mình.
Thơ viết xong rồi bà Hội đồng
niêm lại và sai một tên bạn cầm xuống nhà dây thép Vũng Liêm mua cò[2] mà
gởi. Tên bạn vừa ra đi bà lại nghĩ rằng bây giờ trời đã chiều rồi, mà từ đó xuống
Vũng Liêm thì xa đường, sợ đến đó nhà dây thép đóng cửa rồi mua cò không được.
Bà mới tính với thằng Ðược để lui ghe mà đi kịp nước rồi sáng ngày sau qua Chợ
Lách sẽ bỏ thơ chẳng muộn gì.
Thằng Ðược con Liên nghe lời
mới đem đờn và va-li vô trong mui đặng trống chỗ cho bạn đứng chèo, rồi hai đứa
đứng ké né ở ngoài chớ không dám vô. Bà Hội đồng trải chiều thêm phía sau cho rộng,
rồi biểu hai đứa vô mà nằm. Ghe lui thì thằng con bà Hội đồng vui vẻ hết sức, cứ
biểu thằng Ðược nằm một bên nó mà thôi. Ðến tối thằng Ðược đờn con Liên ca, nội
dưới ghe từ chủ cho tới bạn ai cũng đều thích ý.
Ghe đi đến Rạch Gầm bà Hội
đồng mắc ghé thăm bà con ở đó hết một ngày một đêm, nên chiều ngày mười tám bạn
chèo vô đầu cầu quây mà đậu. Mấy bữa ở dưới ghe, bà thấy hai đứa nhỏ mặt mày ngộ
nghĩnh mà ăn nói lại có khuôn phép thì bà đem lòng thương, mà nhứt là bà thấy
thằng con bà trìu mến hai đứa đó lắm, mấy bữa rồi nó vui cười hoài chớ không phải
nằm buồn xo như lúc trước nữa, thì bà tính đợi thầy Ðàng qua tới bà sẽ nói với
thầy mà xin đứt hai đứa nó đặng mà nuôi. Bà hỏi thằng Ðược thì nó nói nó mười bốn
tuổi, còn con Liên mười ba tuổi. Bà ngồi suy nghĩ rồi bà rưng rưng nước mắt,
day mặt ra phía sau không muốn nói chuyện nữa. Cách một hồi bà liền day lại ôm
con mà hun chùn chụt, thằng Ðược với con Liên ngồi ngó nhau không hiểu ý bà thế
nào. Bà hỏi hai đứa nó chịu làm con nuôi bà hay không thì chúng nó cúi đầu lặng
thinh không trả lời.
Ðến chiều ngày mười chín
thầy Ðàng qua tới Mỹ Tho. Thằng Ðược đương ngồi chơi trước mũi ghe, ngó thấy thầy
đi trên bờ thì mừng rỡ hết sức liền đứng dậy kêu om sòm. Con Liên ở trong mui
cũng lật đật bò ra mà mừng thầy. Thầy Ðàng vừa xuống tới mé sông thì bà Hội đồng
biểu bạn ra bắc tấm đòn dày rồi mời thầy đi xuống ghe cho bà nói chuyện.
Thầy Ðàng vữa bước tới mũi
ghe thì có thằng Ðược đứng chực sẵn tại đó; nó đưa tay cho thầy vịn mà xuống.
Nó liếc xem thấy thầy nó mình gầy vóc ốm mà nước da lại huỳnh đàn thì trong
lòng nó buồn thầm. Bà Hội đồng chào hỏi, mời vô trong mui mà ngồi, hối bạn rót
nước đãi thầy rồi mới nói rằng: "Thưa thầy, tôi làm thất công thầy phải
qua đến đây mà kiếm hai đứa nhỏ, tôi nghĩ lại thiệt tôi lỗi với thầy nhiều lắm.
Nhưng mà không phải tôi có ý muốn làm nhọc lòng thầy, ấy là tại có việc như vầy
xin thầy chịu phiền để tôi thuật lại cho thầy nghe, tôi là người ở Cần Thơ, khi
trước tôi có một đứa con trai đầu lòng, vợ chồng tôi tưng tiu như vàng như ngọc.
Thời chẳng may nên trời khiến đứa con lớn của tôi nó mất đi. Cách bốn năm sau
tôi mới đẻ được một đứa con trai nữa là thằng Phong nầy đây"
Bà Hội đồng nói tới đó thì
lấy tay vuốt đầu con; thầy Ðàng mang cặp mắt kiếng vô rồi ngó thằng nhỏ. Bà Hội
đồng nói tiếp rằng: "Vì chồng tôi có bịnh ho, nên đẻ nó ra thì nó yếu ớt lắm.
Tôi ráng nuôi nó hết sức nó mới mạnh giỏi tới bây giờ đây. Khi nó được ba tuổi
rồi, thì chồng tôi đã mãn phần, bỏ nó lại cho một mình tôi nuôi. Tôi không kể
chi đến gia tài sự sản, lúa ruộng tá diễn nó đong được bao nhiêu thì hay bấy
nhiêu, tôi không có giờ mà coi sóc được, cứ lo nuôi con, miễn con tôi nó mạnh
giỏi thì thôi, giàu nghèo thì tôi cũng không màng. Chẳng biết tại sao mà thằng
con tôi nó đau ốm hoài. Mới đây tôi nghe nói trên Sài Gòn có một ông danh y chữa
bịnh như thần, nên tôi dọn ghe đem con tôi lên cầu ổng xem mạch rồi điều trị thử
coi như phước chủ may thầy nó có ăn chơi như con người ta được thì dầu tốn bao
nhiêu tôi cũng chẳng nệ. Ghe tôi qua tới kinh Mang Thít may gặp hai đứa cháu
đây, tôi mới biểu nó thuật chuyện nó lưu lạc linh đinh thì tôi động lòng
thương, mà thằng con tôi nó lại trìu
mến không chịu để cho hai
đứa đi, khóc lóc biểu một hai tôi phải đem hai đứa đi theo ghe với nó, nó mớI
chịu. Tại như vậy nên tôi mới viết thơ cậy thầy thông Sự cho thầy hay và thằng
Ðược mới viết cho thầy nữa".
Thầy Ðàng nghe nói tới đó
thì gật đầu mà đáp: "Thưa phải, bữa mười bảy tôi có tiếp được thơ của thằng
Ðược, rồi chiều lại thầy thông Sự có sai bếp hầu nói chuyện ấy với tôi nữa. Hồi
chiều hôm qua quan thả tôi ra tôi ghé ngủ tại nhà thầy một đêm, rồi sáng thầy
đưa cho tôi mười đồng bạc để làm phí lộ mà đi xuống đây".
Bà Hội đồng chúm chím rồi
cười nói rằng:
- Hôm nọ tôi gấp đi nên
tính bướng như vậy, té ra cũng là xong... Thưa thầy còn chuyện nầy nữa, hổm nay
tôi tính hễ gặp thầy tôi tỏ thiệt với thầy xem thầy có bằng lòng hay không.
- Thưa, có chuyện chi?
- Tôi thấy hai đứa nhỏ tôi
thương, mà thằng con tôi nó trìu mến không chịu rời, vậy nên hổm nay tôi tính đợi
thầy đặng xin thầy cho đứt hai đứa nầy cho tôi nuôi, trước là hai đứa nó được
sung sướng tấm thân, sau nữa con tôi có đứa bậu bạn cho nó vui lòng, hoặc may
ra nó hết bịnh hoạn nữa. Chẳng giấu chi nhà tôi giàu lớn, mà còn có một đứa con
nầy mà thôi. Nếu thầy cho tôi hai đứa cháu đây thì tôi sẽ sắm ăn sắm mặc cho
chúng nó ấm no, rồi chừng lớn khôn tôi sẽ định đôi bạn, cho bạc tiền, đặng
chúng nó lập thân, khỏi nghèo nàn cực khổ.
Thầy Ðàng ngồi ngó xuống
mà suy nghĩ giây lâu rồi mới ngước lên mà nói rằng:
- Thưa bà, không được. Bà
mới gặp hai đứa nó có mấy ngày rày mà bà đã đem lòng thương chúng nó, còn tôi
nuôi chúng nó hơn bốn năm nay, đã gia công mà dạy dỗ mọi điều, hủ hỉ với nhau
khi nắng mưa ấm lạnh, há tôi lại không thương chúng nó hay sao? Mà tôi nghĩ bà
nuôi chúng nó mà làm gì? Xin lỗi cùng bà, để tôi nói cạn lời cho bà nghe. Bà là
một người đàn bà góa chồng, bà có nhà tốt, bà có ruộng nhiều, bây giờ bà xin
chúng nó đem về bà nuôi thì bất quá bà xin chúng nó mặc quần áo nhổn nha, ăn
mâm cao đầy, chừng chúng nó lớn khôn bà dựng vợ gả chồng, bà cất nhà ngói cho
chúng nó ở, chia ruộng tốt cho chúng nó đứng bộ ví dầu bà có thương lắm thì bà
làm cho chúng nó ngày sau trở nên hai người giàu lớn mà thôi chớ làm sao mà biết
dạy dỗ cho chúng nó biết đạo làm người. Phận tôi tuy nghèo, nhưng mà tôi quyết
nuôi hai đứa nó đặng dạy cho chúng nó biết trọng nhơn nghĩa, biết khinh tiền
tài, biết đường phải mà đi, biết nẻo quấy mà tránh, nhứt là làm cho chúng nó nếm
cho đủ đắng cay mùi đời, đặng khi chúng nó lớn khôn dầu nghèo cũng không buồn
lòng, mà giàu cũng không kiêu hãnh. Vậy xin bà đừng có nài nỉ mà làm gì, để tôi
nuôi chúng nó, vì tôi nuôi thì có ích cho chúng nó hơn là bà nuôi.
Thằng Phong thấy thầy Ðàng
không chịu cho thằng Ðược và con Liên thì nó nằm xuống mặt mày buồn nghiến. Bà
Hội đồng theo năn nỉ hoài, bà lại nói xa nói gần cho thầy biết rằng nếu thầy muốn
đòi tiền bao nhiêu bà cũng sẵn lòng trả cho thầy hết, Thầy Ðàng nghe nói tới việc
tiền bạc thì thầy châu mày rồi nói rằng: "Bà tưởng tôi dục dặc đặng đòi tiền
bà hay sao? Thưa bà, nếu bà nghĩ như vậy thì tội nghiệp cho tôi lắm. Không, tôi
không phải là người xảo trá đâu, xin bà chớ tưởng như vậy mà lầm".
Bà Hội đồng ngồi lặng
thinh không nói chi nữa được. Thầy Ðàng cũng ngồi ngó lên bờ mà suy nghĩ một hồi
rồi day lại nói rằng: "Thưa bà, vì tôi nuôi hai đứa nó đã ba bốn năm nay,
mà tôi lại có công dạy dỗ chúng nó nhiều, nên tôi trìu mến yêu thương, không
đành giao chúng nó lại cho bà được. Tôi mà giành chúng nó đây, là vì tôi muốn dạy
thêm chúng nó cho biết rõ thế thái nhơn tình, muốn cho chúng nó nếm đủ mùi đời
chua cay mặn lạt mà thôi, chớ tôi chẳng có ý nào khác. Nhưng mà tôi nghĩ lại thằng
Ðược nó là con trai tôi nuôi nó đặng dạy dỗ nó thì phải rồi, chớ còn con Liên
nó là con gái, tôi khó mà dạy dỗ nó theo ý tôi muốn được. Vậy thôi để tôi cho
bà con Liên cho bà nuôi đặng bà dạy dỗ giùm cho nó có đức hạnh, biết nữ công
còn thằng Ðược xin bà để cho nó theo tôi đặng tôi dạy nó biết nam nhi khí
phách".
Thầy Ðàng nói dứt lời liền
biểu thằng Ðược lấy va-li đưa cho thầy, rồi thầy mở ra lựa quần áo của con Liên
thầy bỏ ra ngoài và để lại cho nó một cây đờn tranh, còn bao nhiêu thì thấy gói
lại rồi biểu thằng Ðược xách mà đi với thầy. Thằng Ðược thấy mình phải phân
cách con Liên thì trong lòng chẳng vui, mà chừng day qua thấy thằng Phong nằm
khóc thì lại càng buồn hơn nữa, nên nước mắt tuôn dầm dề. Bà Hội đồng thấy vậy
càng động lòng thương, song bà gượng gạo lấy ra năm chục đồng bạc đưa cho thầy
Ðàng và xin thầy đem theo mà làm phí lộ. Thầy Ðàng từ chối hoài không chịu lấy
bạc ấy, thầy nói thầy để con Liên ở lại ấy là thầy cậy bà nuôi dưỡng, dạy giỗ
giùm, chớ không phải thầy bán mà lấy bạc.
Bà Hội đồng nài nỉ hoài,
nói rằng: năm chục đồng bạc nầy là bạc bà cho thằng Ðược không chịu lãnh thì bà
ái ngại trong lòng, bà không dám lãnh con Liên mà nuôi dưỡng. Bà nói hết lời thầy
thấy vậy mới lấy năm đồng bạc cho bà hết hiềm nghi mà thôi. Thầy Ðàng đứng dậy
tử giã bà Hội đồng mà lên bờ và khuyên con Liên hãy ở lại cho bà dạy dỗ, thì ba
đứa nhỏ đều khóc rống lên nghe rất thảm thiết. Bà Hội đồng thấy tình cảnh như vậy,
giọt lụy cũng khó cầm còn thầy Ðàng tuy bề ngoài chẳng tỏ dấu buồn, song bề
trong thầy cũng đau lòng xót dạ.
Chương 6
Thầy Ðàng dắt thằng Ðược
lên chợ Mỹ Tho rồi tìm đến nhà quen mà tá túc. Thầy bị trong chốn lao tù trót một
tháng trường ăn uống thất thường nên thầy thấy trong mình không được mạnh; mà vừa
ra khỏi khám liền phải ngồi xe hơi lên Vĩnh Long rồi đi tàu mà xuống Mỹ Tho nữa,
bởi vậy thầy mệt đuối. Ðêm ấy thầy ngủ đậu tại nhà thầy Sung làm việc Trạng sư,
thì thầy nóng lạnh nằm mê man không biết chi hết, còn thằng Ðược một là nhớ con
Liên, hai là tiếc không được theo bà Hội đồng nên nằm trăn trở hoài không ngủ
được.
Rạng ngày thầy Ðàng ráng
đi ra chợ kiếm tiệm thuốc của khách trú vô mà cầu thầy xem mạch hốt thuốc đem về
sắc uống. Lúc thầy ra đi thì thằng Ðược lén chạy xuống dưới đầu câu quây dòm
coi ghe bà Hội đồng còn đậu đó hay không. Nó thấy không có ghe đậu đó nữa mới lần
bước trở về, ngoài mặt buồn xo trong lòng như dao cắt.
Thầy Ðàng uống bốn năm
thang thuốc thì hết nóng lạnh, nhưng mà trong mình còn mệt mỏi, tay chơn bải hoải,
lại ăn cơm không biết ngon. Thầy muốn ở đậu ít ngày đặng dưỡng bịnh, song thấy
vợ thầy Sung không được vui, chồng có ở nhà thì bình an, hễ chồng xách dù đi
làm việc thì mắng chửi chó mèo, la rầy tôi tớ om sòm, thầy nằm nghỉ không được,
nên thầy từ giã rồi dắt thằng Ðược ra đi, tính lên Sài Gòn kiếm thầy giáo Hai,
là bạn thiết của mình ngày xưa, đặng gởi thằng Ðược cho nó đi học, còn mình thì
dạy đờn kiếm tiền may áo quần mua sách vở cho nó. Ra đến nhà giấy xe lửa thầy
nhớ sực thầy có quen với một thầy Hội đồng ở Bến Lức, khi trước có hứa giúp vốn
cho thầy làm ăn, mà từ ấy đến nay thầy không nghe tin tức, nên tính ghé lại đó
trước viếng thăm sau ở đậu ít ngày mà dưỡng bịnh, chớ trong mình chưa thiệt mạnh,
nếu lên Sài Gòn thì ở đậu nhà nào cũng chật hẹp, không thong thả được. Thầy
tính như vậy nên mua giấy đi Bến Lức.
Xe lửa lên tới Bến Lức đã
hơn ba giờ chiều. Thầy với thằng Ðược xách đồ vô nhà thầy hội đồng. Bước vô nhà
thấy có bàn thờ tang thì trong lòng thầy đã nghi rồi; chừng vợ thầy Hội đồng ra
chào hỏi rồi nói chồng đã tỵ trần cách ba tháng trước thì thầy chưng hửng. Thầy
hỏi thăm rồi nằm nghỉ; đến chiều vợ thầy Hội đồng dọn cơm cho thầy ăn, rồi thầy
nghĩ nhà người ta góa chồng, mình quen là quen với chồng chớ không quen với vợ,
nếu ở đây thì chẳng tiện, nên thầy tính đón chuyến xe lửa chót mà lên Sài Gòn.
Thầy tử giã ra đi, đi gần tới nhà giấy thì nghe xe lửa xúp-lê rồi chạy rầm rầm.
Thầy với thằng Ðược lật đật chạy, mà chạy không kịp, ra tới nhà giấy thì xe đã
chạy mất.
Thầy Ðàng để va-li xuống đất
đứng mà suy nghĩ, nếu trở lại xin ở đậu một đêm thì chẳng tiện, mà nếu đi bộ
thì đường thiệt xa. Thầy nhớ đêm ấy là đêm mười bốn có trăng, mà thầy xem trời
thì trời trong mát mẻ lắm nên thầy mới nhứt định xách đồ đi bộ lên Chợ Lớn. Lên
tới Gò Ðen thì trời đã tối, phía trời đông trăng mọc đỏ lòm, nơi xóm bắc đèn
chong leo lét. Thằng Ðược đi trước thầy đi theo sau, hai bên đường nghe uệt oạc
tiếng ếch kêu, thầy sợ thằng Ðược buồn, thầy mới kiếm những chuyện khôn dại ở đời
mà dạy bảo.
Ði gần hết canh hai lên mới
tới An Lạc. Trên trời mây đen vần vũ che án mặt trăng hết tỏ như hồi đầu hôm.
Thầy Ðàng bèn nói rằng: "Ði riết đi con, trời chuyển mưa, đi riết lên Chợ
Gạo như có mưa thì mình kiếm chỗ mà đụt". Thầy trò đi còn hơn ba ngàn thước
nữa mới tới Chợ Gạo thình lình trời dông mưa gấp tới, đi không kịp. Rủi khúc đường
ấy lại không có nhà ai hết nên phải dầm mưa mà đi. Thầy Ðàng xăn áo quần rồi
giương dù biểu thằng Ðược đi sát một bên thầy mà núp mưa. Trời đã mưa mà lại
dông lớn nên tạt ướt hết, thằng Ðược nghĩ núp dù không ích gì, nên liều mình dầm
mưa để cho thầy dùng trọn cây dù hoặc may thầy khỏi ướt.
Lên tới nhà giấy xe lửa Chợ
Gạo, thầy trò lạnh quíu tay chân, nên dắt nhau vô nhà giấy vắt sơ áo quần rồi
ngồi dựa vách tường mà nghỉ. Trời cũng còn mưa lớn ào ào như cầm tỉn mà đổ, đã
vậy mà lại sấm chớp vang tai, gió dông lạnh muốn đứt ruột. Thằng Ðược ngồi run
tay chân lập cập, miệng đánh bò cạp, lặng thinh một hồi rồi tâm thần bất định,
nằm ngoẻo đầu mà ngủ, không biết việc chi nữa hết. Nó không biết ngủ được bao
lâu, song chừng tỉnh giấc mở mắt ra thì thấy mình nằm trên một cái giường nhỏ bằng
sắt, chung quanh có hơn hai chục cái giường nữa, mỗi cái đều có một ngươi nằm
và ngưòi nào cũng đều mặc quần áo trắng hết thảy. Nó chống tay ngóc đầu ngồi dậy
ngó quanh quất thì ai nấy đều nằm ngủ hết, một lát nghe đầu này ho sò sò, rồi một
lát nghe đầu nọ rên hì hì. Nó không biết vì cớ nào mà nó lại lọt vào một chỗ dị
kỳ lắm vậy, ngó tứ hướng thì thấy bốn tấm vách tường trắng toát, hai đầu lại có
treo hai ngọn đèn sáng trưng. Trong bụng nó hồi hộp, mình nó nóng hổi, mà đầu
nó nặng trìu trĩu. Nó khát nước hết sức, song không biết nước đâu là uống.
Thằng Ðược ngó giáo giác một
hồi rồi phát sợ nên lật đật nằm xuống. Nó nhớ lại thì là nó đi với thầy nó, giữa
đường gặp mưa lạnh quíu, vào nhà giấy xe lửa mà đụt, mà sao thầy nó đâu mất đi,
còn sao nó lại lọt vào chỗ nào như vầy. Nó nằm suy nghĩ hoài cho đến sáng; mấy
người nằm gần nó thức dậy kẻ hút thuốc, người nói chuyện.
Nó muốn ngồi dậy đi kiếm
nước mà uống, song tay chân rũ riệt chổi dậy không nổi. Người ngồi trên giường
dựa bên giường nó đó thấy vậy bèn nói rằng:
- Hứ! Thằng nhỏ này bữa
nay coi bộ khá rồi nên muốn ngồi dậy đây. Sao em? Trong mình em khá hay không?
- Tôi khát nước quá. Chú
làm ơn cho tôi xin một miếng nước uống.
- Ờ, thôi nằm đó, để qua
trót nước giùm cho.
Người ấy nói rồi liền đi
trót một chén nước đem cho nó uống. Thằng Ðược uống hết một chén nước mà chưa
đã khát, còn muốn uống nữa, song sợ nhọc lòng người ta nên không dám mượn Nó nằm
nghỉ một hồi rồi hỏi người ấy rằng:
- Chỗ nầy là chỗ gì vậy
chú há?
- Ủa, thiệt em không biết
hay sao?
- Thưa, không biết.
- Ờ phải, hôm qua họ bồng
em đem vô đây em nóng mê man, quan thầy sợ cứu em không đặng nên làm sao mà em
biết đặng. Ðây là nhà thương Chợ Rẫy đó em.
- Chú có biết thầy tôi đi
đâu hay không?
- Thầy em là ai?
- Thầy tôi là thầy Ðàng.
- Qua không blết. Qua thấy
hôm qua lối mười giờ có hai người bồng em vô để nằm đó rồi quan thầy với mấy thầy
phạm-nhê[1] cho em uống thuốc từ hôm qua cho đến bữa nay đó thôi, không thấy
ai thăm viếng chi hết. Thầy Ðàng người bao lớn, già hay trẻ, mặc quần áo ra làm
sao?
- Thầy tôi già trên năm
mươi tuổi, râu bạc hoa râm, mặc áo dài, đi giày hàm ếch.
- Không có. Từ hôm qua đến
bữa nay qua không thấy người nào như vậy.
- Vậy chớ thầy tôi đi đâu
kìa.
Thằng Ðược hỏi thăm rồi nằm
suy nghĩ không biết thầy nó đi đâu. Cách một hồi lâu có một quan thầy Việt Nam
đi với hai ba thầy phạm-nhê vô thấy nó thì cười, lấy tay rờ đầu nó rồi nói rằng:
"Thằng nầy bữa nay tỉnh rồi. Em ráng uống thuốc vài tuần nữa em mạnh,
không sao đâu mà sợ". Nói rồi bèn day lại nói với mấy thầy phạm-nhê rằng:
"Một lát nữa cho nó uống sữa nghe hôn, cho nó uống sữa ít bữa, cho nó dứt
nóng lạnh rồi sẽ cho ăn cơm ăn cháo". Thằng Ðược vừa muốn hỏi thăm thầy
nó, thì quan thầy bỏ đi qua khám bịnh cho người khác nên hỏi không được.
Buổi chiều thằng Ðược bớt
nóng, nhưng mà nó cũng chưa ngồi dậy nổi. Có một thầy phạm-nhê cầm một cây viết
chì vô hỏi tên họ quê quán nó đặng ghi vào sổ. Nó nói thiệt rằng nó tên Ðược,
mà không biết họ gì, nó không có cha mẹ, đi theo thầy Ðàng, mà thầy đi xứ nầy
qua xứ kia đặng dạy đờn nên không biết quê quán là đâu mà nói. Thầy phạm-nhê
biên rồi cười gằn mà nói rằng: "Té ra mấy là con nhà hoang mà? Ðã không có
cha mẹ mà lại không biết xứ sở, như vầy ai biết đâu mà đòi tiền nhà thương. Tao
chắc chừng mấy mạnh nhà nước sẽ gởi mấy lên Ông Yệm[2].
Thầy phạm- nhê xây lưng bước
ra thì thằng Ðược nước mắt tuôn dầm dề vì mấy tiếng "con nhà hoang"
làm cho nó bầm gan nát ruột, Nó nằm mà tủi thầm thân phận, rồi nhớ mấy lời hăm
sẽ gởi lên Ông Yệm, nó lại sợ không biết ÔngYệm là chỗ nào. Nó hỏi thăm người bịnh
nằm một bên, họ nói Ông Yệm là chỗ đẩy mấy đứa ngỗ nghịch, hoang đàng, không bà
không con, ăn cắp ăn trộm, thì nó càng sợ hơn nữa, nên nằm mà khóc tức tưởi.
Lối sáu giờ rưỡi tối đèn
khí đốt sáng trưng, người bịnh lộn xộn, kẻ sửa soạn ngủ, người ngồi nói chuyện.
Thình lình có một người thầy mặc đồ tây màu vàng, đầu đội nón nỉ xám ở ngoài
xâm xâm vào phòng bịnh với một thầy phạm-nhê. Thằng Ðược tưởng là quan thầy nên
lau nước mắt rồi nằm im lìm. Khi hai người đi lại gần chỗ nó nằm thầy phạm-nhê
chỉ nó mà nói: "Nó đó", rồi bỏ đi ra. Người mặc đồ tây vàng ấy giơ
tay rờ đầu nó rồi nói rằng: "Bữa nay bớt nóng rồi. Hôm qua nóng quá tưởng
đã không xong rồi chớ".
Thằng Ðược nhướng mắt ngó
thầy ấy trân trân không biết là ai. Thầy thấy vậy mới nói với nó rằng: "Em
ráng uống thuốc cho mau mạnh nhé. Tía em thì làng họ đã chôn hồi chiều hôm qua
rồi. Ðồ đạc qua lãnh mà giữ tại nhà qua, chừng em mạnh ra nhà thương rồi thì
ghé đó mà lấy, không mất đâu mà sợ".
Thằng Ðược nghe nói chưng
hửng liền hỏi: "Thầy là ai? Tía tôi là ai đâu mà thầy nói làng đã chôn rồi?
Thế khi thầy tôi đã chết rồi sao? Trời ôi!".
Thầy ấy thấy bộ nó rất bi
thảm nên động lòng thương, bèn ngồi dựa mé giường rồi lấy lời nhỏ nhẹ mà nói rằng:
"Chắc là đêm hôm qua em mắc nóng lạnh mê man nên em không hay, vậy để qua
tỏ hết mọi việc cho em rõ… Em nín đừng khóc nữa. Qua đây là xếp ga Phú Lâm. Hồi
sáng hôm qua lúc xe lửa ở Sài Gòn gần xuống qua mới thức dậy mở cửa mà bán giấy.
Qua thấy ở ngoài có một ông già với một đứa nhỏ đương nằm khoanh dưới gạch mà
ngủ, qua chạy ra kêu thức dậy, chẳng dè ông già chết đã bao giờ mà mình mẩy còn
ướt mèm, còn đứa nhỏ là em đây, tuy còn thở hoi hóp mà qua rờ trán thì nóng
vùi. Qua lật đật tri hô lên cho lính làng chạy đến khám nghiệm. Qua hối làng
kêu xe rồi chở em đem vô nhà thương cho mau, còn ông già thì làng xét trong
mình chẳng có vít tích chi, làng mới chạy tờ cho quan rồi mua hòm mà chôn hồi
chiều hôm qua".
Thằng Ðược nghe nói thì
khóc than nghe rất thảm thiết. Thầy xếp ga an ủi nó một hồi, chừng nó nín rồi mới
nói tiếp rằng: "Ông già chết có để lại một cây đờn cò, một cây đờn kìm với
một cái va-li và một cây dù. Hồi làng họ liệm qua muốn bẻ khóa va-li coi ổng
còn áo quần chi hay không đặng đem theo cho ổng, mà bị làng họ cản nên qua
không dám. Bây giờ đồ dạc qua giữ tại nhà qua. À, qua thấy ổng có đeo một cái đồng
hồ bạc, qua có lấy lại và lấy luôn cái bóp trong ấy có một đồng rưỡi với một
cái bài thuế thân đề tên là Trần Cao Ðàng, qua còn giữ đủ hết, chừng em ra thì
ghé lại qua sẽ giao hết cho em. Em còn bà con là ai ở đâu, em nói cho qua biết
đặng qua gởi thơ giùm cho".
Thằng Ðược nghe thầy chết
một cách rất thảm thiết thì khóc muồi, chừng nghe hỏi đến bà con thì tủi phận
nên lại khóc rống lên nữa. Thầy xếp ga theo an ủi hoài. Nó nín khóc nằm suy
nghĩ, nhớ lời thầy dặn dầu thầy có chết cũng đừng cho vợ chồng Phan Hảo Tâm là
em rể hay; nếu bây giờ nói thiệt ra thì phụ ý thầy mà nếu nói giấu thì sợ nhà
nước nói nó là nhà hoang gởi nó lên Ông Yệm. Nó muốn cậy viết thơ cho Ba Thời,
mà nó sợ nhà nước đòi tiền nhà thương Ba Thời không có mà đóng lại càng khổ nữa.
Nó suy đi nghĩ lại một hồi rồi mới nói rằng: "Thầy có lòng thương thầy tôi
và thương tôi nên thầy lo chôn cất thầy tôi rồi vô đây mà thăm tôi, thiệt tôi cảm
đức của thầy vô cùng. Chẳng giấu chi thầy, tôi chẳng có cha mẹ bà con chi hết,
tôi theo thầy tôi là ông Ðàng đó mà học đờn. Thầy tôi đã có bịnh sẵn mà rủi giữa
đường lại mắc một đám mưa dông không có chỗ đụt nên lạnh quíu mà chết; tôi cũng
vì đám mưa đó mà nóng lạnh mê man khiến cho thầy tôi chết, tôi không thấy mặt,
tôi nghĩ thiệt tôi tủi trong lòng không biết chừng nào. Hồi chiều này tôi lại
nghe nói, nếu tôi không có cha mẹ bà con thì nhà nước sẽ gởi tôi lên Ông Yệm. Vậy
tôi xin thầy làm ơn nhận giùm tôi đặng lãnh tôi ra, chớ nếu để gởi tôi đi Ông Yệm
thì tội nghiệp tôi quá".
Thầy xếp ga nghe nói tức
cười mà đáp rằng: "Họ nói gạt em đa, không có đâu, đừng có lo. Nhà thương
hễ người nghèo thì nằm thí chớ tiền gạo gì. Còn em có tội tình gì mà gởi lên
Ông Yệm. Họ nói bậy đa, em đừng có tin. Mà thôi, để bữa em mạnh qua sẽ vô mà
lãnh giùm em ra". Thầy xếp ga nói rồi bèn từ giã ra về. Thằng Ðược ngó
theo cảm tình thầy chẳng xiết.
Ðêm ấy nó nằm nhớ thầy
Ðàng hoài ngủ không được nhớ từ tướng đi bộ đứng, từ tiếng nói giọng cười, nhớ
ngón đờn giéo giắt tiu tao, nhớ lời dạy thâm trầm chánh trực. Nó nhớ rồi nó lại
nghĩ không biết vì cớ nào người tài tình dường ấy, của phi nghĩa dầu mấy muôn
cũng không ham, gặp ngang tàng dầu nát thân cũng gánh vác, mà sao trời chẳng
cho giàu sang sung sướng, lại đày tấm thân đến chết bụi chết bờ. Hay là phải
nhuốc nhơ mới đặng giàu, phải lòn cúi mới đặng sang? Nếu sang giàu mà phải như
vậy thì thà chết phứt theo thầy đặng xa lánh trước cho xong chớ sống rồi ngày
sau mà phải chìm nổi chốn dương trần, phải dày bừa thân nam tử thì lại càng khổ
não hơn nữa. Thằng Ðược nhớ thầy rồi nghĩ đến cuộc đời thì khóc muồi. Những người
bịnh nằm gần ai thấy cũng đều cảm động.
Thằng Ðược trong mình có bịnh
mà trong trí lại còn buồn rầu nữa, nên sáng bữa sau bịnh nó trở nặng lại, làm
cho nó nằm mê man hai ba ngày. Quan thầy hết sức điều trị mà gần hai mươi ngày
nó mới thiệt mạnh. Mỗi buổi tối chúa nhựt thầy xếp ga Phú Lâm đi Chợ Lớn chơi đều
có ghé nhà thương mà thăm nó. Ðến ngày nó thiệt mạnh quan thầy kêu nó rồi vỗ đầu
biểu nó về, không đòi bạc tiền chi hết. Nó mừng quýnh nên xá quan thầy rồi lật
đật đi ra; ra khỏi cửa nó hỏi thăm đường đi chợ gạo rồi lầm lũi đi riết. Nó thấy
đã khỏi bị giải đi Ông Yệm, mà lại cũng khỏi đóng tiền nhà thương, thì trong bụng
nó mừng nên quên phứt sự từ nay bơ vơ một mình, đã không còn thầy mà nương nhờ,
mà cũng không còn em mà hủ hỉ.
Chừng nó xuống Chợ Gạo, bước
vô nhà giấy xe lửa, thầy xếp ga chào mừng rồi lấy cái va-li, cây dù với hai cây
đờn mà đưa cho nó, thì nó nhớ tới thầy nó, chừng đó nó mới khóc dầm dề. Thầy xếp
ga dọn cơm cho nó ăn rồi mới mượn con thầy dắt chỉ giùm mả của thầy Ðàng cho nó
thăm. Nó ra tới mà lạy bốn lạy rồi ngồi ôm núm mà khóc nghe rất thảm thiết. Nó
khóc một hồi rồi đứng dậy, lau nước mắt, chắp tay đứng trước đầu mả mà vái lớn
lên rằng: "Thưa thầy, con nhờ ơn thầy dạy bảo mấy năm nay nên ngày nay con
mới biết đường ngay nẻo dại, con mới hiểu thế thái nhơn tình. Nay trời khiến giữa
đường thầy trò ta phải xa nhau, con chẳng biết lấy chi mà tỏ lòng kính mến thầy.
Vậy con xin lạy thầy bốn lạy mà tạ ơn. Con đứng giữa chốn này, trên có trời, dưới
có đất, con nguyền lập chí như thầy, gặp việc phải làm dầu nát thân con, con
cũng làm, gặp chuyện chẳng nên làm dầu làm được bạc ức bạc muôn con cũng chẳng
thèm".
Thằng Ðược vái van xong rồi
mới trở về nhà thầy xếp ga. Thầy hỏi nó vậy chớ bây giờ tính đi đâu. Nó suy
nghĩ một hồi rồi thưa với thầy rằng: "Thưa thầy em chẳng có bà con chi hết,
song em có một người mẹ nuôi ở dưới Xóm Tre. Lại thầy em hồi trước nuôi em với
một đứa con gái tên là con Liên, khi tới Mỹ Tho thầy em cho con Liên cho bà Hội
đồng Cần Thơ nuôi. Bà Hội đồng dắt nó đi Sài Gòn, vậy em tính lên Sài Gòn đặng
kiếm coi gặp nó hay không".
Thầy xếp ga cầm nó lại một
đêm. Nó đờn ca cho vợ chồng thầy nghe chơi rồi sáng mới giao đồ đạc rồi giao
luôn cái đồng hồ bằng bạc với cái bóp của ông Ðàng cho nó nữa. Nó bỏ cái đồng hồ
vào túi rồi dở bóp ra coi thì còn một đồng rưỡi. Nó móc trong túi nó ra mà đếm
thì tiền riêng của nó còn được tám cắc bạc. Nó bỏ chung vô bóp, rồi đứng ngẫm
nghĩ rằng: "Mình lên Sài Gòn không quen với ai, không biết cơm đâu mà ăn,
chỗ đâu mà ngủ". Nghĩ như vậy nó mới móc bóp ra tám cắc bạc của nó mà lận
lưng, rồi mở va-li bỏ cái bóp của thầy vô đặng gởi va-li với cây dù lại cho thầy
xếp ga, tính xách hai cây đờn mà đi thôi. Thầy xếp ga cho nó một giấy xe lửa với
một đồng bạc. Nó từ chối hoài không chịu lấy bạc. Vợ thầy theo ép quá túng thế
nó phải lấy, song trong bụng tính thầm hễ chừng làm có tiền trở lại lấy đồ rồi
trả đồng bạc cho thầy. Xe lửa dưới Mỹ Tho lên gần tới thổi xúp-lê nghe vang
rân. Nó tử giã vợ chồng thầy xếp ga rồi vác hai cây đờn ra đứng chực mà lên xe.
Ai có đến kinh thành Sài Gòn
cũng đều biết sở vườn Bồ Rô[3]. Mà có biết thì là biết sở vườn ấy rộng lớn, cây
cao, cỏ tốt, ở phía sau dinh quan Toàn quyền đó mà thôi, chớ không rõ vườn ấy
có phép mầu nhiệm là thế nào. Vườn Bồ Rô chẳng phải ban ngày mát mẻ, ban đêm
thanh tịnh như mấy sở vườn khác mà thôi đâu nó lại còn có một tánh chất riêng nữa,
là cũng đường sá quanh co đó, cũng cỏ cây thạnh mậu đó, mà người bận việc đi
ngang qua thì nó chẳng hề chịu tỏ dấu chi làm cho người phải trìu mến rồi dừng
bước mà ngắm cảnh động tình, nó đợi cho có người thung dung nhàn lạc vô đó ngói
chơi nó mới chịu làm cho cảm hứng say mê, rồi khiến cho phải nấn ná dần dà ngồi
hoài không muốn đi, mà chừng đi ra cặp mắt vẫn còn ngó lộn lại. Mà nó làm cho
người thung dung khoan khoái bao nhiêu thì nó lại cũng có thể làm cho người sầu
não càng buồn bã bấy nhiêu; ai trong lòng có việc buồn hễ vô tới đó thì cũng phải
ngẩn ngơ, nên khó dở bước mà lui ra cho khỏi.
Thằng Ðược cách biệt Ba Thời
đã bốn năm năm, trong lòng nó thương nhớ, nên khi nó nghe thầy Ðàng chết rồi
thì trước hết nó tính trở về Mỹ Lợi đặng viếng thăm. Song nó tính như vậy rồi
nó nhớ tới tên Hữu thì trong bụng nó lại buồn thầm, nghĩ vì về đó nó cực thân
đã đành rồi, mà sợ má nó càng thêm nhớ tiếc thì càng tội nghiệp cho má nó nữa.
Bới nghĩ như vậy nên nó mới quyết lên Sài Gòn mà tìm con Liên, bởi vì khi gặp
bà Hội đồng thì bà có nói bà chở thằng con bà lên Sài Gòn đặng cầu danh y cho
nó uống thuốc, vậy, nếu lên Sài Gòn mà tìm thì chắc là gặp Ðược.
Chẳng dè thằng Ðược lên tới
Sài Gòn đi rảo khắp bờ sông thì không thấy ghe của bà Hội đồng; nó hỏi thăm nhà
mấy danh y rồi đến chực trước cửa đón hoài mà cũng chẳng gặp. Nó kiếm ba bốn bữa,
ăn xài đã gần hết tiền rồi, ban ngày thơ thẩn ngoài đường, ban đêm thì vô vườn
thú hoặc vườn Bồ Rô mà ngủ. Bóng trăng chói mấy ngọn cây sáng rỡ, tiếng dế kêu
trong đám cỏ rủ rỉ; gió lao rao mát mẻ vô cùng, vườn rậm rạp im lìm vắng vẻ. Nó
nằm nhớ mẹ nuôi, thương thầy dạy, rồi lại nhớ tới con Liên, thì ứa nước mắt, lạnh
trong lòng. Nó nhớ đủ hết rồi lại nghĩ tới thân phận của nó bây giờ trong lưng
còn có vài cắc bạc mà lưu linh ở đất kinh thành Sài Gòn là chỗ không quen với
ai, thoảng như hết tiền rồi mới liệu thế nào. Nó đương suy nghĩ bỗng nghe đồng
hồ nhà thờ đổ mười giờ, nó lật đật móc túi lấy cái đồng hồ của thầy di tích mà
xem có đúng hay không. Nó thấy đồng hồ của nó đã mười giờ năm phút. Nó vừa muốn
vặn cây kìm trở lại cho đúng mười giờ, rồi nó lại nghĩ rằng: "Ủa, mà không
chừng hay đồng hồ ở nhà thờ đi trễ. Có cái chi làm chứng rằng cái đồng hỗ treo
trên một tòa nhà lớn đó đi đúng còn cái đồng hồ nhỏ ở trong túi nhà nghèo nầy
đi sai đâu". Nghĩ như vậy rồi bỏ đồng hồ vào túi mà nằm, không muốn chịu sửa
theo đồng hồ lớn.
Thằng Ðược vừa mới nằm một
lát thì lại nghe có tiếng kèn thổi nho nhỏ phía trước đầu nó. Nó lồm cồm ngồi dậy
ngó coi thì thấy có một đứa con trai mặc quần đen đương ngồi trên một cái băng
gần đó lấy tay bụm miệng mà sao lại nghe ra tiếng kèn thổi. Nó lấy làm kỳ bèn
ngồi mà nghe một hồi thì tiếng kèn lảnh lót mà nhịp nhàng lại chắc lắm. Nó bèn
xách hai cây đờn đi lại cái băng đó đứng mà nghe cho tường tận. Nó thấy thằng
con trai ấy vóc giạc to lớn, tay cầm một lá cây mà thổi chớ không phải là kèn.
Nó để hai cây đờn dưới đất rồi ngồi mà nghe, tính làm quen đặng hỏi thử coi vì
phép nào có một lá cây mà thổi ra hơi kèn được. Thằng con trai ấy cứ ngồi thổi
hoài không thèm nói tới nó. Nó tức giận mà cũng muốn khoe nghề nên lấy cây kìm
mà đờn theo, rồi hai đứa hòa với nhau luôn cho hết hai bản mới chịu nghỉ. Có
hai thầy thông ngồi hai cái xe kéo chạy ngang thấy hai đứa hòa với nhau thì
thích ý lắm nên ngừng lại mà nghe, chừng chúng nó dứt rồi hai thầy mới khen
chúng nó và cho mỗi đứa một cắc bạc.
Thằng Ðược mới làm quen với
thằng nọ, hỏi cách thế làm sao mà thổi lá cây ra tiếng kèn được, lần lần rồi mới
hỏi tới tên họ nhà cửa. Thằng nọ thì nói ngọng nên nói khó nghe một chút, song
nó cũng ráng cắt nghĩa cách thổi kèn cho thằng Ðược nghe. Nó lại nói nó tên Bĩ,
mười sáu tuổi, gốc ở Bình Ðịnh. Khi nó vừa được mười tuổi thì cha mẹ chết hết,
chú nó mới đem nó về nhà mà nuôi. Ở gần nhà chú nó có một người đờn hay thấy nó
nói ngọng thì thương nên ra công dạy nó học đờn. Chừng nó được mười hai tuổi nó
biết cây đờn cò rồi chú nó mới chở hết vợ con đem vào Sài Gòn mà làm mướn. Mấy
đứa con của chú đều khôn lớn hết mà không có chút lòng nào yêu thương nó nên cứ
theo xéo xắc giọt đầu bạt tai nó hoài. Nó tưởng vào Sài Gòn làm ăn nghề gì, chẳng
dè chúng nó tới Sài Gòn mướn một căn phố lá ở phía trong cầu Rạch Bần mà ở rồi
dạy mấy đứa con và dạy nó cách móc túi thiên hạ mà lấy tiền. Mỗi ngày nó phải
đi với mấy đứa con của chú nó ra chợ Bến Thành rồi xẩn bẩn trong chợ hoặc mấy
nhà giấy xe lửa rình mà móc túi. Nó có tánh nhát, sợ móc túi họ bắt được họ
đánh rồi họ đem đến bót phải ở tù, nên bữa nào nó đi tay không về cũng tay
không hoài. Chú nó đánh khảo và bỏ đói nó mà nó cũng không chịu làm cái nghề hiểm
nghèo và nhơ nhuốc ấy. Nhưng vậy mà nó cũng muốn làm cho vừa lòng chú nó nên bữa
nọ nó ra nhà giấy xe lửa Mỹ Tho nó thấy có một cái gói với một đờn cò để dựng
vách tường mà không có ai coi chừng hết; nó cà rà một hồi rồi lén núm cây đờn
cò mà đi. Nó nhờ cây đờn ấy và nhờ biết thổi kèn lá, nên nó kéo đờn thổi kèn
cho họ nghe mà xin tiền. Mỗi ngày nó kiếm được đôi ba cắc đem về cho chú nó thì
khỏi bị đòn, còn bữa nào năm bảy xu thì phải bị ít cũng vài bạt tai. Cách ba bữa
trước, lúc tám giờ tối, nó mắc đi ra cầu Rạch Bần ngồi chơi, ở nhà lính kín đến
vây nhà rồi bắt chú thím nó và mấy đứa con dắt hết đi xuống bót. Chừng nó trở về
thấy đương lụi hụi trước nhà nó sợ bị bắt luôn nên ẩn mặt. Hồi chiều nó đi hỏi
thăm thì họ nói tòa đã giam hết hai vợ chồng và mấy đứa con đợi tra xét xong
xuôi rồi sẽ xử tội. Hổm nay nó lưu linh chớ không dám léo về nhà, nó bỏ cây đờn
cò trong nhà mà cũng không dám trở về mà lấy.
Chương 7
Thằng Ðược thân đã lao đao
lận đận, mà gặp thằng Bĩ nầy cũng chẳng sung sướng gì hơn thân nó, bởi vậy nghe
hết đầu đuôi rồi thì trong bòng cảm động vô cùng. Nó kể hết chuyện của nó cho
thằng Bĩ nghe rồi hai đứa nằm chung trên cái băng nhà ngủ.
Trời hừng sáng thiên hạ kẻ
lại người qua nói chuyện om sòm. Thằng Ðược giựt mình thức dậy thấy thằng Bĩ
còn ngủ ngáy pho pho, bèn lấy tay lúc lắc đầu nó mà kêu nó dậy. Nó thấy thằng
Bĩ ngồi sật sừ nó tức cười rồi hỏi rằng:
- Mấy ngủ tử hồi hôm qua đến
bây giờ chưa đã thèm sao mậy?
- Tao ưa ngủ lắm. Mà mầy
kêu tao thức dậy làm giống gì bây giờ?
- Mầy ngủ hoài cơm đâu nầy
ăn?
- Vậy chớ thức lại có cơm
mà ăn sao. Lo giống gì, vậy chớ thuở nay tao có lo hồi nào đâu mà tao có đói bữa
nào. Tao bứt một lá cây tao để vô miệng cũng đủ no bụng cần gì phải lo.
- Mấy ỷ tài quá! Ví như mầy
lành mạnh không nói gì, thoảng mầy đau ốm bứt một lá cây cũng không nổi thì mấy
lấy chì mà làm cho no bụng. Mà ở đời phải lo liệu thế nào dầu không hơn được
thì ít nữa cũng phải bằng người ta, chớ mầy tính ăn ngoài chợ ngủ trong vườn
hoài như vầy hay sao?
- Tao không cần hơn ai, mà
cũng không sợ thua ai. Tao muốn có một điều là được thong thả tấm thân thì
thôi.
Thằng Ðược liếc ngó thằng
Bĩ một hồi rồi nói tiếp ràng:
- Nãy giờ tao nói chuyện
tao biết tánh mầy ưa tự do. Tánh ấy hiệp với tánh tao lắm, mà tao coi bộ tướng
mầy cũng là một đứa trung hậu. Mầy không cha, không mẹ, không anh, không em tao
đây cũng trôi nổi một thân không biết ai mà nhờ cậy. Tao muốn hai đứa mình kết
làm anh em nương đỡ dìu dắt nhau mà ở đời, không biết mầy có chịu hay không?
- Ðược lắm chớ.
- Mầy mắc có chú mầy đó
thì làm sao mà đi với nhau cho được?
- Hại gì! Tao trốn luôn,
tao không dám theo chú nữa đâu.
- Nếu vậy thì được. Thôi,
để tao tính với mầy như vầy: Không biết mầy có tiền bạc chi hay không, chớ thiệt
tao có một cắc bạc mà thôi, nhờ hai thầy hồi hôm cho một cắc nữa là hai cắc.
Hai đứa mình ăn cơm một ngày nay nữa thì tiêu hết. Vậy tao muốn hai đứa mình đi
dài theo mấy dãy phố có mấy thầy ở mình đờn cho họ nghe đặng kiếm tiền mà nuôi
nhau. Mầy thổi kèn lá hay, mà lại biết đờn cò. Tao biết đờn hai, ba thứ mà lại
biết ca. Nếu hai đứa mình hiệp với nhau mà đờn ca hoặc thổi kèn kiếm tiền dễ lắm.
- Ừ được.
- Tao còn lo một điều...
- Lo giống gì?
- Ăn cơm thì mình vô quán
ăn quấy quá cũng xong, còn chỗ ngủ không biết tính làm sao...
- Vậy chớ cái vườn nầy để
làm chi đó. Nếu thiên hạ có áp vô giành giựt chỗ hết thì còn sở vườn thú nữa
chi. Nói cùng mà nghe như vườn thú có chật nữa thì mình lên trường đua, hoặc vô
trong lăng ông Thượng cũng được cần gì mầy phải lo cho mệt.
Thằng Ðược nghe nói miệng
chúm chím cười rồi hai đứa đứng dậy, mỗi đứa xách một cây đờn, nắm tay nhau mà
dắt đi xuống chợ. Lại tới nhà giấy xe lửa nhỏ thằng Bĩ lấy cây đờn cò lên dây rồi
ngồi đờn vài bản. Thằng Ðược đứng nghe ngón thì tươi, song nhịp không được chắc,
tuy vậy mà nó cũng lấy làm vừa ý lắm, tính dạy giùm cho thằng Bĩ trúng nhịp thì
ngón đờn của nó đó chắc cũng ít ai bằng.
Hai đứa nó dắt nhau đi rảo
khắp Sài Gòn mà đờn ca. Mấy thầy mấy cô giành nhau mà rước, người cho ăn cơm kẻ
cho ngủ đậu, mà ai ai cũng cho tiền, không có đêm nào mà hai đứa nó không kiếm
được một đồng bạc, mấy đêm thứ bảy lại kiếm tới hai ba đồng. Tiền kiếm được bao
nhiêu thì thằng Bĩ biểu thằng Ðược cất lấy, chớ nó không thèm giữ. Thằng Ðược
thấy tiền dư nhiều mới đặt may mỗi đứa một cái áo bành tô[1] vàng với một
cái quần vải đen, và mua cho thằng Bĩ một cái nón trắng đặng nó đội cho giống
cái nón của mình.
Bữa nọ có một thầy thông
làm việc tại tòa án rước chúng nó đến nhà chơi. Thằng Bĩ thừa dịp hỏi thăm mới
hay chú thím nó với mấy đứa con đã bị tòa kêu án sáu tháng tù và trong án có lịnh
cấm không cho ở Nam nữa. Bước qua đầu tháng chạp thằng Ðược đếm thử trong lưng
nó đã có hơn bốn chục đồng bạc. Bữa nọ hai đứa nó ngủ đậu trước hàng tư nhà một
thầy thông ở đường Bạc Hà, thằng Ðược mới nói với thằng Bĩ rằng ở Sài Gòn thiệt
là vui mà lại dễ kiếm tiền, song nó nhớ má nuôi nó với con Liên lung quá, nên
nó muốn về chợ Mỹ Lợi thăm má nuôi nó ít ngày rồi đi Cần Thơ kiếm con Liên. Thằng
Bĩ nghe nói lấy làm mừng vì nó muốn đi xuống dưới mấy tỉnh đặng biết ruộng vườn
chơi, song nó khuyên thằng Ðược ở nán ít ngày đợi lối rằm tháng chạp sẽ đi đặng
về Mỹ Lợi ở ăn Tết luôn thể. Thằng Ðược bằng lòng ở Sài Gòn thêm vài tuần nữa.
Ðúng ngày mười tháng chạp hai đứa nó mới dắt nhau mà đi, trong lưng thằng Ðược
có bốn mươi ba đồng bạc. Chúng nó đi xe lửa xuống Phú Lâm cho thằng Ðược trả đồng
bạc lại cho thầy xếp ga.
Vợ chồng thầy xếp ga thấy
thằng Ðược thì mừng rỡ vô cùng; nó trả đồng bạc thầy không chịu lấy mà lại cầm
nó ở lại chơi với thầy ít bữa. Ăn cơm rồi nó thì đờn còn thằng Bĩ thì thổi kèn
cho thầy nghe chơi. Thằng Ðược nhơn lúc ấy mới dắt thằng Bĩ ra thăm mộ thầy
Ðàng. Nó ngồi khóc kể nghe rất thảm thiết, làm cho thằng Bĩ là một đứa khờ khạo
ngọng liu mà nó cũng phải động lòng rưng rưng nước mắt.
Qua ngày mười tám hai đứa
nó muốn từ giã mà đi, vợ thầy xếp ga không cho, nói ngày mươi tám là ngày xấu,
nên hai đứa ở nán lại một bữa nữa. Khuya mười chín vợ thầy xếp ga nấu cho hai đứa
nó một nồi cơm, ăn rồi trời hừng sáng chúng nó mới lấy hai cây đờn, cái va-li
và cây dù mà đi trở lên Chợ Lớn đặng đi ngã Cần Giuộc mà xuống Cầu Nổi.
Mặt trời mọc lên cao vừa
được vài sào thì hai đứa nhỏ đã qua khỏi xóm Củi rồi hỏi thăm đường Cần Giuộc
mà đi. Thằng Bĩ mạnh mẽ nên lãnh xách cái va-li với cây đờn cò còn thằng Ðược ốm
yếu nên xách cây đờn kìm với cây dù. Mặt trời càng lên cao nắng càng thêm gắt.
Thằng Ðược giương cây dù rồi biểu thằng Bĩ đi khít một bên nó đặng núp bóng dù.
Thằng Bĩ lắc đầu mà nói rằng:
"Tao không sợ nắng đâu. Mầy che dù một mình mầy cho dễ, để tao đi ngoài nắng
cho thong thả". Nói như vậy rồi thấy thằng Ðược ôm cây đờn kìm kình càng
nên che dù bất tiện, nó lại đổi cho thằng Ðược xách cây đờn cò cho nhẹ. Thằng
Ðược sợ bắt nó xách hết đồ nặng thì tội nghiệp cho nên dục dặc không muốn đổi
mà nó không chịu, cứ giành ôm cây đờn kìm cho thằng Ðược hoài.
Vả thằng Bĩ tuy mạnh mẽ và
lớn hơn thằng Ðược hai tuổi, song trí nó tối tăm, mà tánh nó cũng thiệt thà
hơn, bởi vậy cho nên mấy tháng nay hai đứa nó kết làm anh em với nhau thì thằng
Bĩ thường kính nhường thằng Ðược luôn luôn, thằng Ðược muốn việc nào thì nó làm
theo việc nấy, chẳng hề khi nào nó cãi lẫy bao giờ. Ðã vậy mà nó thấy thằng Ðược
nhỏ nhít nó lại thương, nên mọi việc cực nhọc như giặt quần áo, mua cơm, xách đờn
nó giành làm hết thảy, thậm chí ban đêm ngủ đậu nơi nhà người ta nếu có một bộ
ván thì nó để cho thằng Ðược nằm phía trong; nếu có một ghế bố thì nó cũng để
cho thằng Ðược nằm, còn nó nằm dưới đất. Thằng Ðược biết tánh nó trung hậu, mà
lại thấy bụng nó như vậy nữa thì thương nó vô cùng, bỡi vậy, cho nên tuy trong
hai đứa thằng Ðược làm đầu, nhưng mà nó chẳng hề ỷ thế mà húng hiếp.
Hai đứa hễ đi được một
khúc xa xa gặp bóng cây mát thì ngồi mà nghỉ chân. Ngó chung quanh đồng thì lúa
chín đỏ lòm, có chỗ gặt rồi bụi ngã ngửa bụi ngã nghiêng, có chỗ chưa gặt, bông
lúa cong vòng gió thổi lung lay dường như đợi trông chủ ruộng. Có chỗ lại lao
nhao lố nhố kẻ gặt người mót, dựa bờ có người che dù ngồi xem chừng, tuồng như
sợ người ta an tươi nuốt sống hết đám lúa của mình. Một lát nghe tiếng kèn le
te rỏi thấy có một chiếc xe hơi đầy vập người ta đàng xa chạy tới. Thằng Ðược lật
đật sập dù đứng dậy nói rằng:
- Úy! May dữ? Ðể kêu xe
hơi dừng lại mình đi cho mau.
Thằng Bĩ nắm áo kéo ngồi
xuống mà nói rằng:
- Ði xe hơi làm gì tốn tiền
vô ích.
- Mình thiếu gì tiền mà sợ
mậy?
- Dẫu có tiền nhiều lại
xài tiền vô ích như vậy sao?
- Ði xe hơi khỏe chơn, chớ
sao mà vô ích.
- Phải, ngồi trên đó thì
khỏe chơn, mà tao sợ bể đầu.
- Mấy nhát quá!
- Không phải nhát.
Hai đứa đương cãi với nhau
thì xe hơi đã chạy tới rồi chạy tuốt. Thằng Ðược mắt ngó theo còn bụng thì tiếc
nên lầm bầm nói rằng:
- Mầy dại quá! Xe chạy tuốt
rồi còn gì.
- Nó chạy đi đâu thì chạy
chớ. Mầy biết tại sao mà tao không chịu đi xe hơi hay không?
- Không!
- Tại xe hơi là đồ của nhà
giàu dùng.
- Sao mà mấy ghét nhà giàu
dữ vậy?
- Tại tao nghèo.
Thằng Ðược lặng thinh
không hỏi nữa mà bộ suy nghĩ lung lắm, rồi hai đứa mới xách đồ mà đi. Ði dọc đường
thằng Ðược nhắc tới chuyện má nuôi nó với con Liên thì nó nói nhiều tiếng yêu
thương trìu mến lắm. Thằng Bĩ mới nói rằng: "Mầy tuy không có cha mẹ mà mầy
còn có người thương mầy, thảm cho thân tao cha mẹ chết hết rồi, bây giờ trên thế
gian này chẳng có ai thương tao nữa hết". Thằng Ðược nghe lời than như vậy
thì động lòng nên ứa nước mắt, đi khít lại che dù cho thằng Bĩ rồi đáp rằng:
"Còn tao đây chi". Thằng Bĩ day lại ngó thấy cặp mắt ướt rượt thì
cũng động lòng nên để đồ dựa lộ, rồi hai đưa núp bóng cây dù, lặng thinh không
nói một tiếng mà trong lòng dan díu với nhau không kể xiết.
Ngồi một hồi rồi thằng Bĩ
mới hỏi rằng:
- Mầy nói mầy thương má
nuôi mầy với con Liên mà sao về thăm mầy không tính mua vật gì đem về mà cho?
Thằng được nghe hỏi như vậy
liền ngước mặt lên mà đáp rằng:
- Mầy nói phải lắm. Tao về
thăm, tao phải mua đồ đem về má cho mới phải. Tiền mình thiếu gì, như hết mình
kiếm cái khác, sợ gì, mà mua vật gì?
- Mua bánh trái hay là áo
quần, mua vật gì thì mầy liệu lấy chớ tao có biết đâu.
- Má tao ít ưa ăn bánh lắm.
Thôi để tao mua một cái quần lãnh với một cái áo xuyến bông đặng má tao mặc đi
xóm, chắc là má tao mừng lắm. Ý? Mà không được. Má tao có đời nào đi chơi mà mặc
quần áo tốt. Nếu tao mua thì để mục chớ không có ích mà lại sợ ăn trộm lấy nữa,
không thì ông già nuôi tao ổng cũng bán đặng ổng nhậu rượu. Ðể tao nhớ coi hồi
trước má tao ưa những vật gì. Ừ phải! Má tao ưa nuôi heo lắm. Tao nhớ hồi trước
má tao có nuôi một con heo quắn, tía tao bắt bán cho họ làm thịt má tao tiếc
nên khóc hoài. Thôi, để tao mua cho má tao một con heo khác cũng giống như con
heo quắn đó cho má tao nuôi, chắc là má tao chịu lắm. Cha chả! Mà không xong
đâu mầy.
- Sao mà không xong?
- Con heo quắn hồi trước
tía tao bán tới hai mươi tám đồng bạc. Nếu mình mua con khác giống như vậy mà
cho thì hết tiền còn gì.
- Hết thì mình kiếm cái khác.
- Có kiếm thì mình trở lên
Sài Gòn, chớ ở dưới ruộng mà liếm giống gì được.
- Bây giờ mình có tới bốn
mươi ba đồng bạc nếu mình mua con heo hết hai mươi tám đồng thì mình còn mười
lăm đồng chớ sao mà hết đi.
- Phải để đành tiền đặng
đi Cần Thơ thăm con Liên nữa chớ.
- Ví như có hết thì mình
đi dọc đường đờn ca kiếm tiền mà đi. Mấy sợ kỳ quá!
Thằng Ðược không nói nữa,
rồi hai đứa xách đồ đi lần lần tới chợ Cần Giuộc thì mặt trời dã đứng bóng. Thằng
Ðược móc túi lấy đồng hồ ra coi thi đã mười hai giờ tám phút. Hai đứa đói bụng
nên dắt nhau vào quán ăn cơm, thấy cái đồng hồ lớn treo giữa quán, kim chỉ mười
hai giờ rưỡi thì thằng Ðược trề môi mà nói rằng: "Lớn đó vậy mà đi bậy, có
bằng nhỏ của tao đây đâu".
Hai đứa ăn cơm rồi mới dắt
nhau đi vòng theo mấy nẻo đường xem chơi cho bỉết Cần Giuộc. Gần tết mấy tiệm
buôn bán chưng hàng hóa hực hỡ, nào tượng liễu nào bông giấy nào chơn đèn, quả
tử, nào bình phong lục bình, nào quần đỏ áo xanh, nào pháo, nào nhang, nào cam
hồng dưa chuối, chẳng thiếu vật chi hết. Thằng Ðược thấy một tiệm có treo khăn
trắng, khăn đen, khăn bông hường để cho đàn bà con gái đội, thứ nào cũng đẹp.
Nó đứng trầm trồ chỉ cho thằng Bĩ coi rồi vô lựa mua một cái khăn màu bông hường
với một cái khăn trắng, tính để cái khăn trắng cho má nó, còn cái khăn bông hường
thì cho con Liên. Chị chủ tiệm thách giá mỗi cái hai đồng bạc. Hai đứa ke re trả
tới trả lui đến một đồng bảy một cái họ mới chịu bán. Thằng Ðược mở va-li bỏ
hai cái khăn vô rồi dắt nhau mà đi.
Chẳng biết đường bao xa,
hai đứa thẩn thơ, khỏe thì đi, mệt ngồi nghỉ, đi đến năm giờ chiều mới xuống tới
chợ Trạm. Thằng Ðược hỏi thăm thì họ nói từ đó xuống Cần Ðước còn xa, đi tới tối
sợ cũng chưa tới. Hai đứa nó tính với nhau rồi mới đem đồ vô nhà việc[2] làng
mà gởi và xin với người coi nhà việc cho ngủ đậu một đêm chờ sáng ngày mai sẽ
đi. Gởi đồ rồi dắt nhau đi chơi. Ðến tối hai đứa nó chưa đói bụng nên không ăn
cơm, mỗi đứa ăn một tô mì rồi trở về nhà việc tính ngủ cho sớm đặng khuya thức
dậy sớm mà đi cho mát.
Người coi nhà việc thấy có
hai cây đờn bèn hỏi coi hai đứa có biết đờn hay không mà xách đi đâu vậy. Hai đứa
nó nói biết, người ấy biểu đờn ít chập nghe chơi. Hai đứa nó thấy người ta cho
mình ngủ đậu, không lẽ mình không tỏ lòng cám ơn ngươi ta, nên ngồi lại lên dây
rồi Bĩ cầm đờn cò, Ðược ôm đờn kìm, hòa với nhau nghe thâm trầm lắm. Cả chợ
ngươi lớn trẻ nhỏ đều tựu lại trước nhà việc mà nghe chật nứt. Thầy giáo dạy tại
đó, ham đờn kìm mà mới học quọt quẹt nghe tiếng đờn vợ chồng cũng dắt nhau lại
đó đứng mà nghe.
Hai vợ chồng thầy giáo thấy
hai đứa nhỏ mà đờn tươi thì trầm trồ khen hoài: chừng chúng nó nghỉ thầy bèn bước
lại hỏi thăm rồi bèn rước chúng nó về nhà đờn chơi, lại biểu đem hết đồ đạc lại
nhà thầy mà ngủ luôn thể. Lại nhà thầy giáo thằng Ðược còn trổ tài ca và thằng
Bĩ trổ tài thổi kèn, ai nấy đi theo mà nghe thảy đều đẹp dạ. Thím giáo hối trẻ
bắt gà làm thịt nấu cháo đặng khuya cho hai đứa nó giải lao. Hai đứa nó đờn đến
mười hai giờ khuya, ăn cháo rồi mới ngủ.
Thằng Ðược đã tính khuya
thức dậy đi cho sớm đặng khỏi nắng, mà bị ngày trước đi xa mệt mỏi, rồi lại bị
thức đờn chơi nữa, bỡi vậy cho nên hai đứa ngủ quên sáng ngày sau đến bảy giờ mới
thức dậy. Thằng Ðược đương ngồi trước cửa bưng tô nước súc miệng rửa mặt, bỗng
thấy trước căn phố ngang nhà thầy giáo có con heo đen ột ệt đi lại qua, cũng
lang mỏ, đuôi cũng bỏ qua phía tay mặt, giống hịt con heo quắn của Ba Thời nuôi
hồi trước vậy. Nó kêu thằng Bĩ lại mà chỉ con heo cho thằng Bĩ coi, rồi đứng trầm
trồ hoài, bụng muốn mua dắt về Mỹ Lợi mà cho má nó lắm.
Hai đứa nó đương bàn tính
với nhau, thím giáo bước ra không rõ việc gì mới hỏi: "Hai em nói giống gì
đó? Khoan đi đã, để qua mua đồ dọn ăn rồi sẽ đi".
Thằng Ðược chỉ con heo mà
hỏi thím giáo rằng:
- Thưa thím không biết con
heo đó của ai vậy thím há?
- Heo của thím Chảnh đa.
- Không biết mình mua họ
bán hay không thím?
- Thím Chảnh, thím tính Tết
nầy thím làm hàng đa. Nếu mình mua đúng giá thì thím bán, chớ để làm chi. Thím
nuôi con heo thím tập nó dạn quá. Sắp con thím nó cột dây rồi dắt đi chơi tối
ngày, dắt đi đâu cũng được, con heo khôn dữ lắm. Mà hai em muốn mua hay sao mà
hỏi?
- Dạ, em muốn mua.
- Hai em mua làm gì?
- Dạ, mua đặng dắt về chợ
Cầu Nổi mà cho má em nuôi.
- Hai em có tiền nhiều lắm
hay sao mà tính mua con heo lớn như vậy.
- Không biết giá con heo
đó chừng bao nhiêu thím há?
- Hôm trước các chú[3] cạo
heo trên Cần Giuộc họ trả hai mươi chín đồng bạc mà thím Chảnh dục dặc không chịu
bán đó đa.
- Nếu mình trả ba chục đồng
bạc thì họ chịu bán thím há?
- Ờ nếu ba chục đồng bạc
chắc họ bán.
- Vậy xin thím làm ơn trả
mua giùm cho em. Cha chả! Mà không biết mua rồi dắt nó đi được không. Chớ nếu
phải khiêng, thì hai đứa tôi khiêng sao cho nổi?
- Ðược, con heo nầy dạn lắm,
dắt đi thủng thẳng thì được, không cần phải khiêng.
- Vậy xin thím trả rồi mua
giùm cho em.
Thím giáo qua hỏi thì thím
Chảnh đòi ba mươi hai đồng bạc, phải trả dục dặc một giây lâu mới chịu dứt giá
ba chục đồng bạc. Thím về nói lại cho hai đứa nó hay. Thằng Ðược lật đật đếm ba
chục đồng bạc đưa cho thím giáo rồi dắt nhau qua bắt con heo.
Thằng Ðược mua được con
heo thì trong lòng mừng rỡ vô cùng. Nó mua một sợi dây dừa mà cột ngang nách
con heo đặng có dắt đi cho dễ. Ðem về cột trước nhà thầy giáo thì nó rờ rẫm
hoài. Con heo thiệt dạn, hễ gãi thì nó nằm ngay không cục cựa chi hết. Vợ chồng
thầy giáo dọn cơm cho hai đứa nó ăn xong rồi, hai đứa nó mới từ giã mà dắt con
heo đi. Thằng Ðược nắm dây đằng trước, còn thằng Bĩ thì đi theo sau coi chừng,
hễ con heo dục dặc thì nó la chừng đặng đi cho mau. Thằng Ðược lấy làm đắc ý vô
cùng, bởi vậy hễ đi trước thì ngoái lại ngó con heo mà nói rằng: "Ði, ráng
đi nghe hôn em quắn. Ði về chợ Mỹ Lợi với qua. Bĩ ơi, hồi tao ở nhà má tao, tao
ra đi với thầy tao thì tao có nói rằng chừng nào tao lớn khôn tao sẽ làm mà
nuôi má tao. Nay tuy tao chưa lớn mà đã có thể cho má tao được một con heo như
vầy thì tao đã khoái trong lòng rồi. Ðể rồi sau mầy coi, chừng tao làm giàu lớn
thì tao sẽ làm cho má tao sung sướng lắm... Chắc tao về đây má tao vui lắm".
Thằng Ðược nói dứt lời rồi
lại cất giọng lên mà ca hát om sòm. Thằng Bĩ thấy vậy cũng vui nên tiếp mà ca,
nhưng vì nó nói ngọng nên nó ca thì thằng Ðược cười ngã nghiêng ngã ngửa. Hai đứa
vừa đi vừa giỡn, mà lại bị con heo dục dặc nên đi không mau. Giỡn đã thèm rồi
thằng Ðược lại nói rằng: "Tao về thăm má tao thì tao vui thiệt, mà tao nhớ
tới tía tao thì tao buồn quá. Tao vái ông địa về đừng có tía tao ở nhà thì tao
sẽ cúng một nải chuối".
Năm giờ chiều hai đứa mới
xuống tới chợ Cần Ðước. Thằng Ðược tính ghé lại đó trước là kiếm cơm ăn và kiếm
cám cho con heo ăn, sau nữa thăm vợ chồng cô Ba Sự và cho cô hay việc thầy Ðàng
chẳng may bỏ mình nơi đất khách. Nó lại nghĩ thầm rằng vì bị mua khăn, mua heo
nên trong lưng bây giờ còn có chín đồng bạc, vậy đêm nay ở tại Cần Ðước cũng
nên đờn ca kiếm tiền thêm chút đỉnh nữa chơi.
Tính như vậy nên vừa vô tới
chợ nó mới biểu thằng Bĩ đưa cây đờn kìm cho nó ôm rồi bứt lá cây mà thổi kèn đặng
cho người ta hay hoặc may tối người ta có rước đến đờn cho họ nghe. Thằng Bĩ
nghe lời thổi kèn om sòm. Sắp nhỏ đứa chơi ngoài đường, đứa đứng trong cửa, nghe
tiếng kèn thì dòm ngó, chừng thấy hai đứa xách đồ kình càng thì lấy làm kỳ nên
áp chạy theo la om sòm rằng: "Á, họ hát heo bây à! Ngộ quá, ngộ
quá?". Con heo thấy sắp nhỏ chạy rần rần mà lại la vang rân thì kinh hãi
nên vụt chạy. Thằng Ðược tình cờ nắm mối dây không chắc nên con heo sút chạy tuốt,
Thằng Ðược với thằng Bĩ chạy theo, sắp nhỏ thấy vậy càng vỗ tay la lớn hơn nữa.
Con heo chun tuốt vô tiệm bán hàng xén đụng mấy chồng tộ chén dưới đất bể hết bộn.
Hai đứa nó chạy tới áp vô
tiệm nắm dây dắt con heo ra. Chủ tiệm cản lại, biểu phải thường tộ chén bể rồi
mới được dắt con heo đi.
Lúc hai đàng dan ca với
nhau sắp nhỏ ở chợ càng tựu đông hơn nữa. Lính gác chợ thấy vậy không biết chuyện
gì, lật đật chạy lại vẹt sắp nhỏ bước vô tiệm mà hỏi. Chủ tiệm chỉ đồ bể cho
chú lính xem rồi xin chú dạy hai đứa nó phải bồi thường hư hại. Chú lính thấy
hai đứa nhỏ lạ mà lại có dắt con heo thì lấy làm kỳ nên bắt đem về quận cho
quan Chủ quận tra vấn. Quan Chủ quận hỏi thì thằng Ðược thưa hết sự tình, nói rằng
nó mua con heo của thím Chảnh ở chợ Trạm có hai vợ chồng thầy giáo ngó thấy và
nó tình dắt về Mỹ Lợi mà cho má nó nuôi; nó ghé cần Ðước là vì muốn thăm cô Ba
Sự, rủi con heo làm bể đồ của người ta thì nó cũng chịu thường, chớ không dám
cãi.
Quan Chủ quận cho đòi Ba Sự
đến nhìn coi có quen với hai đứa hay không và sai lính cỡi ngựa lên chợ Trạm mà
hỏi thím Chảnh với vợ chồng thầy giáo xem thiệt hai đứa nó mua con heo ấy hay
là bắt trộm của người ta. Ba Sự đến nhận thấy thằng Ðược liền hỏi: "Ủa! Mấy
năm nay anh Hai tao ở đâu? Sao mầy lại về đây? Còn anh Hai tao bây giờ ở
đâu ?" Thằng Ðược nghe hỏi thì buồn nghiến nên đáp nhỏ nhỏ rằng:
- Thầy chết rồi.
- Húy! Chết hồi nào?
- Chết đã ba tháng nay.
Ba Sự nghe nói tới đó liền
la khóc om sòm làm cho thằng Ðược động lòng cũng khóc theo, còn ông Quận thì ngồi
ngó trân trân không hiểu chi hết. Ba Sự hỏi thằng Ðược vì làm sao mà bị bắt. Thằng
Ðược thuật sơ chuyện heo làm bể tô chén, Ba Sự mới xin ông Quận cho phép chị ta
lãnh hai đứa nó về mà hỏi thăm chuyện riêng của anh. Thằng Ðược lấy ra một đồng
bạc mà xin thường đồ bể cho chủ tiệm. Ông Quận đòi chủ tiệm vô thì chủ tiệm nói
đồ bể đáng giá một đồng hai, mà vì sự rủi ro nên bằng lòng lấy một đồng bạc
không đòi thêm làm chi nữa.
Hai đứa mới xách đồ và dắt
con heo đi theo Ba Sự mà về nhà, thằng Ðược thuật hết đầu đuôi mọi việc từ ngày
thầy nó ở Cần Ðước ra đi cho đến ngày chết cho Phan Hảo Tâm với Ba Sự nghe. Vợ
chồng Hảo Tâm nghe anh gặp hoạn nạn cho đến ngày chết mà cũng không ấm thân thì
tức tưởi trong lòng nên khóc kể thảm thiết: "Trời ôi ! Người có văn học,
biết xa lánh đường cong nẻo vạy, đặng giữ lấy chút thanh liêm quyết chừa cãi những
bại tục đồi phong đặng ập tánh nam nhi khẳng khái, người vậy mà trời chẳng
thương, bắt thân phải lặn bụi vùi tro, xô thân cho mưa sa gió táp khiến cho đến
giờ nhắm mắt cũng không được thấy quê quán, gặp anh em, trời ôi, trời làm như
thế còn ai dám giữ bụng thanh liêm, còn ai dám gìn lòng chánh trực. Ví dầu
trong mười năm anh tôi có quyền có thế mà có bức thiếp hiếp đáp người ta đi nữa,
thì mười mấy năm sau chịu nghèo, chịu cực đó há chuộc tội chẳng rồi sao?".
Ba Sự muốn sai đứa lên nhà
báo tin cho vợ thầy Ðàng hay; mà chồng không cho lại nói rằng: "Chị đó mà
kể gì ai! Chớ chi mà chỉ biết tam tùng tứ đức thì anh Hai đâu có ra thân thể
như vậy. Nay có cho chỉ hay thì bất quá chỉ làm bộ khóc nhíu nháo đặng che miệng
thế gian, chớ chỉ có tình có nghĩa gì đó mà cho hay".
Tên lính ông Quan sai đi
chợ Trạm về nói rằng thiệt thím giao có mua con heo của thím Chảnh giùm cho thằng
Ðược, nên sáng ngày ông Quận cho đòi hai đứa ra rồi nói rằng: "Tao đã có
cho lính đi dò thì thiệt là heo của bây mua, vậy thì bây thong thả muốn đi đâu
tự ý. Mà bây giờ bây tính đi đâu?".
Thằng Ðược thưa rằng:
"Bẩm ông, hai đứa tôi đi về chợ Mỹ Lơi". Ông Quận nói: "Bộ tướng
bây đã dị kỳ mà lại còn dắt một con heo đi, ai thấy cũng phải nghi. Nay bây
tính đi qua tỉnh khác vậy để tao cho một cái giấy đặng bây cầm mà đi khỏi ai
nghi ngờ nữa".
Ông Quận viết một cái giấy
chứng nhận rằng con heo đó là heo của hai đứa nhỏ mua trên chợ Trạm, ký tên
đóng dấu rồi mới trao cho thằng Ðược cầm. Hai đứa nó thấy ông Quận này tử tế
như vậy thì có ý mến thầm nên vòng tay cúi đầu xá hai ba xá rồi lui ra.
Ra đường thằng Bĩ cười mà
nói với thằng Ðược rằng:
- Mầy tính ghé Cần Ðước kiếm
tiền, té ra không kiếm được thêm, mà lại tốn của mình hết một đồng bạc nữa.
- Mầy đừng có tiếc. May lắm
đa mầy. Hồi bị lính bắt tao tưởng chín đồng bạc với con heo kia tiêu hết kia chớ.
Trở về nhà Ba Sự, thằng Ðược
mới giao va-li với cây dù của thầy Ðàng lại cho Ba Sự, còn cái đồng hồ với mấy
cây đờn thì nó xin để làm dấu tích, thấy đồ đó cũng như thấy thầy.
Ðến trưa nước lớn đầy, có
người ở lối xóm chèo ghe qua chợ Mỹ Lợi mà thăm bà con, thằng Ðược hỏi xin cho
quá giang. Người ấy chịu, nó mới cậy họ khiêng giùm con heo bỏ xuống ghe rồi từ
giã vợ chồng Hảo Tâm ôm mấy cây đờn mà qua sông Bao Ngược.
Chương 8
Lối năm giờ chiều, gió thổi
hiu hiu, hai hàng dương trồng hai bên đường từ Mỹ Lợi vô Gò Công nhánh oặt òa,
oặt oại dường như ngoắt khách qua đường tỏ niềm tâm sự, hay là hỏi người lạ mặt
coi bươn bả đi đâu. Ai hữu tình háo cảnh đến lúc ấy mà đi qua khúc đường đó thì
cũng đều cám cánh mà hớn hở trong lòng. Thằng Bĩ tuy là đứa ngọng liu lờ khờ mà
nó đi đến đó cũng vui thầm nên miệng ngậm một lá cây mà thổi tò te, tay ôm cây
đờn kìm cũng khảy tồn tên, còn hai chơn cũng nhảy lăn ba làm cho con heo thằng
Ðược dắt đi trước giựt mình nên chạy lom xom không dám in dục dặc.
Thằng Ðược hồi qua tới Mỹ
Lợi nó hỏi thăm thì họ nói tía nó đã bỏ vợ mà đi mất mấy năm nay, nên trong
lòng nó mừng thầm, lật đật đi riết về Xóm Tre đặng mẫu tử đoàn viên mà kể hết
những lúc gian truân, những hồi thương nhớ. Nó lầm lũi mà đi trong bụng tính thầm
coi phải liệu thế nào mà dắt con heo vô nhà má nó đừng ngó thấy rồi thình lình
con heo kêu ột ột cho má nó giựt mình chơi. Nó đương suy tới nghĩ lui rồi lại
chăm mắt mà ngó vào Xóm Tre coi nhà má nó ở chỗ nảo, bỗng nghe thằng Bĩ đi sau
thổi kèn khảy đờn nó day lại bắc tức cười rồi kêu mà chỉ rằng: "Bĩ cái nhà
ở đầu xóm phía ngoài ló nóc mình ngó thấy đó đa". Hai đứa cúi xuống khỏi
nhánh dương mà dòm rồi cười với nhau cấm cắc như đứa điên với đưa khùng trửng
giỡn.
Ði tới đầu bờ nhỏ vô xóm,
thằng Ðược khấp khởi trong lòng đi không vững bước, mà lại hai con mắt cứ chăm
chỉ ngó chừng nhà hoài không coi dưới chơn, nên láng cháng vấp lỗ chơn trâu té
lăn cù, văng nón dưới ruộng, mà may cây đờn cò khỏi gãy. Vô gần tới sân nó mới
nắm con heo mà ngồi núp dưới bụi cây trâm bầu, rồi biểu thằng Bĩ đi thẳng vô
nhà nói với má nó rằng: "Có một người giàu lớn nghe thím nghèo nên đem bạc
tiền đến cho thím, vậy thím phải đi ra mà rước".
Thằng Bĩ nghe lời đi thẳng
vô nhà kêu om sòm mà không nghe tiếng trả lời. Nó đi tuốt vô buồng thấy vắng
hoe, đi thẳng xuống bếp rồi bước ra cửa sau cũng không thấy ai hết. Nó lật dật
chạy ra sân mà kêu: "Ðược ơi! Ðược! Không có ai ở nhà hết mầy à!". Thằng
Ðược dắt con heo đi vô trong bụng lấy làm kỳ, không hiểu má nó bỏ nhà mà đi
đâu. Nó ngó quanh quất thì thấy cái chuồng vịt cũng còn đó trong chuồng lại
nghe tiếng vịt kêu lạp cạp như năm trước, hồi nó còn nhà. Vô nhà nó coi đồ đạc
cũng như cũ, duy có thêm một cái cối giã gạo với một cái võng mà thôi. Nó ra
sau bếp thì thấy có nồi cơm còn ở trên đầu ba ông táo, lửa đã tắt mà than còn
ngủn nóng hổi.
Nó trở ra thấy thằng Bĩ nằm
tòn ten trên võng mà gãi con heo nó mới nói rằng: "Chắc là má tao đi chơi
đâu lối xóm đây. Nồi cơm nấu mới vừa chín, chắc là một lát về ăn cơm chớ không
lâu đâu. Mầy nằm đó nghe hôn. Ðể tao trốn, như má tao về có hỏi thì mầy giả đò
ngủ, đừng thèm nói gì hết". Thằng Ðược dắt con heo vô buộc dưới giường rồi
trở ra thấy dạng má nó đã vô gần với sân. Nó lính quýnh không biết đâu mà trốn
cho kịp, bèn núp dựa cửa chờ. Ba Thời vừa bước vô nó nhảy ra hà một tiếng lớn.
Ba Thời giựt mình la bài hãi. Thằng Ðược ôm Ba Thời chặt cứng mà nó rằng:
"Con về đây nè, má vui hôn? Mừng hôn hử?". Rồi nó lại vỗ túi mà nói:
"Bây giờ con không thiếu gì bạc, má không nghèo cực nữa đâu, đựng
lo".
Ba Thời ôm con vừa khóc
đưa nói:
- Con đi năm sáu năm nay
má nhớ con hết sức mà má cũng lo sợ không biết con mạnh giỏi thế nào. Sao con
không mượn người ta viết thơ rồi gởi thăm má vậy con?
Thằng Dược nắm tay Ba Thời
mà đáp rằng:
- Con biết chữ giỏi lắm má
à. Có nhiều khi con muốn viết thơ mà ngặt không biết làng mình đây là làng gì
nên không gởi thơ được.
- Làng Bình Thạnh Ðông chớ
làng gì.
- Trời ôi! Con có biết
đâu. Má nói làng nầy là làng Bình Thạnh Ðông phải hôn má?
- Ừ.
Hai mẹ con lăn líu với
nhau một hồi, rồi Ba Thời day lại thấy thằng Bĩ nằm trên võng không biết nó là
ai mới hỏi:
- Thằng em đây ở đâu...?
- Anh em bạn của con đó má
à. Nó đi theo con về thăm má cho biết.
- Mấy năm nay con đi đâu,
má hỏi thăm thì bên Cần Ðước họ nói họ không biết. Còn con ở đâu mà về đây. Ủa!
Mà bộ con đói bụng, thôi để má nấu thêm cơm đặng con ăn chớ.
Ba Thời vừa xây lưng đi vô
bếp thì thằng Ðược kêu mà nói rằng:
- Má, má, ai ở trong buồng
đó vậy má?
- Ai đâu?
Ba Thời dòm vô buồng không
thấy ai hết, mà lại nghe tiếng heo kêu ột ột dưới giường thì lấy làm lạ mới bước
vô. Con heo vùng đứng dậy. Ba Thời giựt mình la lớn rằng: "Húy! Con heo của
ai đó vậy?". Thằng Ðược đứng ngoài vỗ tay cười ngất và nói rằng: "Hồi
trước tía bán con heo quắn của má, con kiếm mấy năm nay mới được nên dắt về cho
má đó đa. Má coi có phải hay không?".
Lúc ấy trời chạng vạng tối
nên trong buồng thấy mờ mờ không rõ, Ba Thời mới đốt đèn rọi coi con heo thì lấy
làm mừng rỡ vùng nói lớn rằng: "Phải rồi, heo con mua ở đâu vậy
con?".
Thằng Ðược lấy làm toại
chí đứng chống nạnh vinh mặt mà đáp rằng: "Con mua bên chợ Trạm đem về cho
má đó đa". Ba Thời để đèn dưới đất ôm con mà hun trơ hun trất, rồi nói rằng:
"Con tôi thiệt đáng quá!"
Ba Thời lấy cám sú cho heo
ăn rồi đi vo gạo nấu cơm. Thằng Ðược với thằng Bĩ chạy ví bắt một con gà giò đặng
làm thịt. Thằng Ðược biểu thằng Bĩ phụ nấu cơm với Ba Thời, còn nó chạy vô thăm
cậu Hai mợ Hai nó. Quá nửa canh một, cơm nước xong rồi, thằng Bĩ leo lên võng nằm
ngủ ngáy pho pho.
Thằng Ðược lấy khăn mua
trên Cần Giuộc mà cho Ba Thời rồi mẹ con nằm tại bộ ván giữa mà kể hết những hồi
hoạn nạn, những lúc nhớ thương trong mấy năm ly biệt. Ba Thời nghe thằng Ðược
thuật đến lúc thảm thiết nhất là lúc thầy Ðàng bị bắt giam tại Trà Vinh, lúc nằm
nhà thương Chợ Rẫy và lúc linh đinh ở Sài Gòn thì động lòng thương nên nước mắt
dầm dề. Tháng Ðược thuật hết chuyện của nó rồi nó mới hỏi tới chuyện của má nó ở
nhà giàu nghèo ấm lạnh thế nào, rồi lại hỏi thăm luôn tới chuyện tía nó nữa. Ba
Thời nằm to nhỏ mà kể hết chuyện nhà cho con nghe, nói rằng từ khi con ra đi rồi
thì chị ta ở nhà buồn rầu không xiết kể, ngày như đêm cứ nằm gác tay qua trán mà
thở ra hoài. Chồng xài hết mấy chục đồng bạc bán heo, rồi hai chục đồng bạc của
thầy Ðàng cũng làm tiêu luôn nữa. Chị ta lớp thì nhớ con, lớp thì túng tiền nên
theo phàn nàn với chồng hoài, biểu chồng phải lo làm ăn, mà chồng lửng đửng lờ
đờ như kẻ ở một nơi mà lo một nơi, ở được vài tháng rồi vác dù mà đi nữa. Mấy
năm nay chồng không về thăm lần nào. Chị ta ở nhà một mình lo củi đục làm ăn, bởi
vậy cho nên tuy trong nhà không dư dả song cũng không thốn thiếu. Năm ngoái chị
ta nghe họ nói có gặp chồng ở làm ruộng dưới Cần Thơ. Hôm tháng trước chị ta có
tiếp được một bức thơ của chồng gởi về, chị ta có mượn thầy giáo coi giùm thì
thầy giáo nói rằng chồng bây giờ ở dưới kinh Xà No biểu chị ta như có nghèo thì
bán nhà đi xuống dưới mà ở. Ba Thời nói tới đó thì ngồi dậy thò tay vào túi móc
bức thơ ra dưa cho thằng Ðược coi. Thằng Ðược thấy bức thơ có mấy hàng chữ mà
thôi nên đưa gần đèn mà đọc:
Xà No, le 15 Décembre
19...
Tao gởi lời về thăm mầy được
mạnh giỏi. Tao ở dưới nầy bình an như thường. Năm nay tao làm ăn cũng khá khá.
Như mầy có nghèo lắm thì bán cái nhà lấy bạc đi qua Mỹ Tho rồi ngồi tàu mà xuống
đây.
Mà nếu mầy đã có nơi nào
khác rồi thì phải gởi thơ cho tao biết. Nói giùm tao gởi lời thăm anh Hai chị
Hai và bà con lối xóm hết thảy.
Hữu ký.
Thằng Ðược đọc thơ rồi bèn
ngó Ba Thời vừa cười vừa nói rằng:
- Sao? Má tính đi xuống dưới
hay không?
- Ði làm chi.
- Má không đi đây chắc tía
nghi má có chồng khác đa.
- Ối! Nghi thì nghi chớ hại
gì,
Thằng Ðược ngồi ngẫm nghĩ
một hồi rồi nói rằng:
- Ừ mà thôi, đừng có đi
má. Má cứ ở nhà đây, con làm con nuôi má. Con đờn ca giỏi lắm, con kiếm tiền dễ
như chơi.
- Nầy con, từ hồi chiều đến
bây giờ má quên nói chuyện cho con nghe.
- Chuyện gì?
- Con đi mấy năm nay vậy
mà có ai nhìn con không?
- Không.
- Nầy, lóng trước có một
chuyện nầy má lấy làm kỳ lắm con.
- Chuyện gì vậy?
- Hôm trước ông Hương Sư
đi bán lúa trên Bình Ðông, rồi ổng ra Sài Gòn mua đồ. Tối lại ổng đi xem hát gặp
một thầy thông, hai người làm quen với nhau rồi thầy thông hỏi ổng đi đâu. Ổng
nói ở làng Bình Thạnh Ðông thuộc tỉnh Gò Công. Thầy thông mới hỏi ổng vậy chớ
bình Thạnh Ðông mà có biết người đàn bà nào tên là Ba Thời hay không. Ổng nói
biết rồi hỏi thầy thông vậy chớ hỏi thăm Ba Thời làm chi vậy, Thầy thông mới
nói rằng có một người giàu có lớn hồi trước lạc mất hết một đứa con trai đến cậy
thầy tìm giùm. Thầy hỏi thăm thì nghe họ nói Ba Thời ở Bình Thạnh Ðông có xí được
đứa nhỏ ấy. Thầy muốn tìm đến nhà mà chuộc lại, song không biết có quả như vậy
hay không nên thầy chưa dám đi. Ông Hương Sư mới nói với thầy rằng ổng có nghe
nói Ba Thời hồi trước có nuôi một đứa con nuôi tên là thằng Ðược mà vì nhà
nghèo nuôi không được nữa nên đã bán cho người khác, họ dắt đi mất đã bốn năm
nay rồi. Bữa hôn ông Hương Sư về có nói chuyện lại cho má nghe, song má không
biết con đi đâu nên má không để ý đến cho lắm.
- Vậy mà ông Hương Sư có
nói thầy thông đó tên gì nhà ở đâu hay không?
- Có, ổng nói thầy thông
đó tên Lợi, nhà ở đường Cầu Quan.
- Nếu vậy để con lên Sài
Gòn con kiếm thầy.
Thằng Ðược tính ở chơi vài
bữa rồi trở lên Sài Gòn. Ba Thời không cho, nói rằng đã cận Tết rồi, nếu có muốn
đi thì để ăn Tết rồi sẽ đi. Thằng được nghe lời nên không đòi đi gấp nữa.
Ðêm ấy thằng Ðược nằm thao
thức hoài ngủ không được. Từ ngày nó biết Ba Thời không phải là mẹ ruột nó rồi,
hễ ai hỏi đến cha mẹ nó thì trong lòng nó lấy làm bứt rứt xốn xang, thầm tủi
thân không mẹ không cha, cứ hỏi riêng trong bụng hoài vậy chớ mẹ mình có chửa
hoang mà đẻ mình rồi sợ tiếng xấu hay sao nên bồng mà bỏ đi, hay là cha mẹ mình
nghèo lắm không thể nuôi được nên mới bỏ mình như vậy. Nó suy đi nghĩ lại, bàn
tới tính lui hoài mà cũng không hiểu tại sao mà thân phận nó lao đao như thế.
Có khi nó nằm đêm buồn bực ước thầm trong bụng nó rằng, nếu có ai nhìn nó làm
con dầu người ấy tàn tật nghèo hèn nó cũng hết lòng mà kính thờ yêu mến. Nay
thình lình nó nghe nói có cha mẹ kiếm nó, mà cha mẹ nó là người giàu có lớn nữa
thì tự nhiên trong bụng nó khấp khởi vui mừng. Nó nằm tính thầm lăng xăng, tính
hễ tìm được cha mẹ rồi thì rước mẹ nuôi về ở chung một nhà cho hết cực khổ, bắt
thằng Bĩ phải ở với mình đặng đờn ca chơi cho vui, lại đi xuống Cần Thơ kiếm
cho được con Liên đem về ở chung một nhà nữa. Nó lại tính cũng đi Trà Vinh mà đền
ơn cô bán thơm cho mình ở đậu máy ngày, rồi về chợ Gạo thăm thầy xếp ga và mua
cho thầy một đôi giày vàng với một cái nón nỉ thiệt tốt.
Qua ngày hai mươi tám thằng
Ðược đưa cho má nó năm đồng bạc biểu đi chợ mua đồ về ăn Tết. Ba Thời không chịu
lấy, nó theo nài nỉ hoài, nói rằng rồi đây cha mẹ nó có nhìn, nó có thiếu gì bạc
tiền, nên cực chẳng đã phải lấy hết hai đồng bạc. Ba Thời đi chợ Gò Công mua
dưa, cải, cam, hồng; còn thằng Ðược với thằng Bĩ dắt nhau đi chợ Mỹ Lợi, thằng
Ðược muốn mua vài đồng bạc pháo về đốt chơi, thằng Bĩ cứ cản trở hoài nói rằng
tiền làm ra không phải là dễ mà đem đi mua những đồ vô ích như vậy. Thằng Ðược
nói: "Tết rồi đây tao lên Sài Gòn kiếm tía tao, tao thiếu gì tiền mà lo mậy".
Thằng Bĩ cười gằn mà nói rằng: "Mầy mới gần giàu mà mầy đã quên lúc nghèo
rồi há". Thằng Ðược nghe nói mấy lời thì hổ thầm nên buồn hiu, rồi hai đứa
dắt nhau đi về không mua một vật chi hết.
Từ bữa thằng Ðược nghe nói
cha mẹ ruột nó kiếm, thì trong lòng nó mừng đến đỗi lộ ra ngoài mặt, tối ngày
nó giỡn trững nhảy nhót hoài, chớ không phải tề chỉnh như hồi trước. Thằng Bĩ
nghe nói rằng tía thằng Ðược giàu có, ăn Tết rồi sẽ nhìn nó, nghe thì nghe thấp
thố thấp thưởi mà thôi, không rõ người ở đâu nhưng mà nghe như vậy rồi nó lại
buồn nên có đêm thằng Ðược muốn hòa đờn chơi, nói hết sức mà nó cũng không chịu
đờn.
Tối mùng ba Tết thằng Ðược
biểu thằng Bĩ gói quần áo với hai cây đờn cho sẵn rồi khuya thức dậy mà đi cho
sóm. Ba Thời mới lấy ra một gói đồ đưa cho nó mà nói rằng: "Ðồ nầy là đồ của
con mặc hồi má xí được con đó, con nghĩ có nên đem theo cho họ nhìn cho dễ hay
không". Thằng Ðược ngồi ngẫm nghĩ một hồi rồi biểu má nó cất, bởi vì nó đi
lưu linh sợ đem đồ ấy theo rủi mất thì khó lắm, chi bằng để ở nhà như nó gặp
cha mẹ rồi, mà cha mẹ nó còn nghi thì nó sẽ dắt xuống mà lấy.
Khuya Ba Thời dọn cơm cho
hai đứa nó ăn rồi, thằng Ðược muốn để lại ít đồng bạc, Ba Thời không chịu lấy,
biểu đem theo mà làm lộ phí, bởi vì lên Sài Gòn không biết có tìm được liền hay
không. Hai đứa nó ra đi thì trong mình còn được hơn sáu đồng bạc. Hai đứa ra chợ
đón xe hơi mà đi, Thằng Bĩ không biểu đi bộ nữa, song nó buồn lắm, ngồi tại đầu
cầu Nổi mà chờ xe không nói chuyện chi hết. Thằng Ðược thấy vậy mới kiếm thế mà
ghẹo cho vui nên hỏi rằng:
- Sao mầy buồn dữ vậy mậy?
- Vui sao được mà mầy biểu
vui.
- Sao vậy?
- Tao làm anh em với mầy,
tao tưởng mầy mồ côi và nghèo hèn như tao, có dè ngày nay mầy được giàu có ở
đâu.
- Thằng khéo nói kỳ hôn! Nếu
tao được giàu thì mầy cũng sung sướng với tao, chớ phải tao giàu rồi bỏ mầy hay
sao mà mầy buồn.
- Tao sợ miệng mầy nói như
vậy mà bụng mầy không được như vậy chớ.
- Tại sao mầy sợ?
- Tao thấy một chút nầy
thì tao biết bụng mầy rồi. Mấy tháng nay mầy với tao lưu linh đi kiếm ăn, mầy
thường nhắc nhở con Liên hoài, mầy nói thương nó như em ruột mầy vậy, mầy tính
hễ về thăm má mầy rồi thì đi kiếm cho được nó. Hổm nay mầy nghe nói cha mẹ mầy
là người giàu có lớn đương tìm kiếm mầy thì mầy mừng, mầy quên con Liên, không
nghe mầy tính đi thăm nó nữa. Rất đỗi con Liên mầy thương nó lắm mà chưa giàu mầy
đã quên nó rồi, huống chi là tao mà mầy kể gì.
- Mấy nói tức quá! Tao có quên
con Liên bao giờ? Ðể tao đi tìm được cha mẹ tao rồi tao sẽ đi kiếm mà rước nó về
tao nuôi nó chớ. Tao có quên anh em thì trời đừng để mạng tao.
- Hai đứa vừa nói chuyện tới
đó thì xe hơi đã ra tới, nên lật đật xách đồ xuống đò đặng ngồi xe lên Chợ Lớn.
Xe hơi lên tới kinh Xóm Củi
hai đứa nó mới xách đồ đi qua Chợ Lớn đặng ngồi xe lửa mà ra Sài Gòn. Qua tới
nhà giấy xe lửa nhỏ hai đứa ngồi chờ xe thấy có một ông thầy tướng đương ngồi
coi tay cho họ. Thằng Ðược đứng coi một hồi móc ra hai cắc bạc đưa cho thầy tướng
mà coi giùm cho nó thử xem mạng vận nó ngày sau thể nào. Thầy coi hết hai tay rồi
mới nói nó là con nhà giàu, tuy từ hồi nhỏ đến bây giờ lận đận lao đao, không
được ở chung với cha mẹ, song năm nay thời vận đã banh thông rồi chẳng bao lâu
nữa thì mẫu tử tương phùng, anh em sum hiệp. Thằng Ðược nghe thầy tướng đoán
như vậy thì mừng không biết chừng nào, cứ theo khen hay hoài và tốn hai cắc bạc
thiệt đáng lắm. Nó biểu thằng Bĩ coi thì thằng Bĩ lắc đầu mà nói rằng:
"Coi làm gì mậy. Tao không ham giàu mà cũng không buồn. Tao có cần gì mà
phải coi tướng mạng".
Hai đứa ra Sài Gòn tìm đường
Cầu Quan mà hỏi thăm nhà thầy thông Lệ. Nhờ có một bà già chỉ giùm nên hai đứa
nó mới tìm được. Bước vô nhà thì thấy nhà dọn hực hỡ, trong có treo kiếng lớn,
giữa có để bàn mặt đá, có ghế xích đu, hai bên có tủ áo, tủ rượu đủ hết. Trên cửa
buồng lại thấy có treo một tấm hình bán ảnh của một người đàn ông độ chừng bốn
mươi lăm tuổi, mặc áo dài bịt khăn đen, hai hàm râu thưa thớt mà lại vắn. Có một
người đàn bà chừng bốn mươi tuổi ở phía sau, thấy hai đứa nó xớ rớ trước cửa
thì bước ra hỏi chúng đi đâu. Thằng Ðược thưa rằng nó đi kiếm nhà thầy thông Lợi,
họ chỉ lại đây mà không biết có phải hay không. Người ấy nói phải rồi hỏi nó vậy
chớ có việc chi hay sao mà kiếm. Nó nói có việc cần. Người đàn bà ấy mới biểu
hai đứa ngồi trước cửa mà chơi, đợi chút nữa thầy sẽ về.
Thằng Ðược với thằng Bĩ ngồi
chờ tới mười một giờ rưỡi thì thấy có người ngồi xe kéo mà về, người ấy độ chừng
bốn mươi tới bốn mươi hai tuổi, mặc đồ tây, đi giày vàng, đội nón xám. Người ấy
bước vô thấy hai đứa liền hỏi chúng nó đi đâu. Thằng Ðược khoanh tay thưa rằng:
- Bẩm thầy, tôi tên Ðược,
con nuôi của Ba Thời ở làng Bình Thạnh Ðông, thuộc hạt Gò Công. Mấy năm nay tôi
mắc đi theo thầy tôi, hôm Tết nầy tôi về thăm má tôi thì má tôi có nói rằng lúc
trong năm có ông hương Sư ở trong làng đi Sài Gòn ổng gặp thầy và thầy có nói với
ổng rằng tôi là con nhà giàu, song tôi lạc cha mẹ từ hồi nhỏ tới bây giờ nay
cha mẹ ruột tôi đòi kiếm mà nhìn tôi. Vậy tôi đến đây lạy thầy xin thầy làm ơn
chỉ giùm cha mẹ tôi nhìn cho dễ.
- Té ra mầy tên Ðược hay
sao?
- Daï.
- Böôùc voâ ñaây.
Thầy Lợi vô nhà và hai đứa
nó cũng vô theo. Hai đứa nó đứng xứ rớ dựa cánh cửa, thầy Lợi móc nón trên đầu
nai rồi ngó thằng Ðược và ngó tấm hình trên cửa buồng, dường như nhìn coi nó có
giống người trong tấm hình ấy hay không. Thầy ấy ngồi vấn thuốc hút và suy nghĩ
một hồi rồi nói rằng: "Bây giờ tao không rảnh, mà chiều nay tao còn đi làm
việc. Vậy thôi mầy đi chơi đi, để chiều chừng năm sáu giờ mầy lại đây rồi tao sẽ
dắt giùm mầy đến nhà cha mẹ mầy".
Thằng Ðược với thằng Bĩ xá
thầy Lợi rồi bước ra. Thằng Ðược hân hoan đắc ý.
Ðúng năm giờ chiều hai đứa
nó trở lại đứng chực trước nhà. Cách nửa giờ thầy Lợi đi làm việc về chỉ thằng
Bĩ mà hỏi thằng Ðược rằng:
- Mầy tên Ðược còn thằng nầy
tên gì, nó đi theo mấy chi vậy?
Thằng Ðược thưa rằng:
- Bẩm thầy, thằng nầy tên
Bĩ, nó là anh em bạn của tôi, mấy tháng nay hễ tôi đi đâu thì nó theo đó, chẳng
hề rời nhau.
Thầy Lợi nghe nói châu mày
rồi gật đầu nói ràng:
- Ừ, nó muốn theo mấy cũng
được. Mà bây ăn cơm rồi chưa?
- Thưa ăn rồi.
- Ờ, thôi bây vô đây ngồi
chơi, chờ tao một chút rồi sẽ đi.
Thầy Lơi ăn cơm rồi mới biểu
đứa ở trong nhà chạy đi kêu một xe kiếng[1]. Thầy mở cửa xe lên ngồi phía sau,
rồi biểu hai đứa nó lên ngồi phía trước. Xe chạy một hồi rồi qua một cái cầu dốc
cao lắm, thằng Ðược day qua hỏi thằng bĩ rằng: "Cầu nầy tên cầu gì mậy?".
Thằng Bĩ nói: "Cầu Khánh Hội". Xe chạy qua khỏi cầu xuống hết dốc quẹo
qua phía tay trái, chạy một chút nữa rồi lại quanh qua phía tay mặt. Thằng Ðược
ngồi ngó hai bên đường hễ thấy cái nhà nào tốt thì trong bụng nó tưởng thầm là
nhà của cha mẹ nó. Khỏi mấy cái nhà tốt rồi lần lần còn thay nhà lá nhỏ nhỏ mà
thôi. Xe chạy tới mé kinh, thầy thông Lợi biểu người đánh xe ngừng lại rồi mở cửa
bước xuống. Hai đứa nó cũng xuống theo; thầy Lợi mới dắt chúng nó đi vô một cái
đường nhỏ, cỏ rác dơ dáy, mà lại trời tối đen nên khó đi lắm.
Ði qua khỏi hai cái nhà lá
nhỏ rồi tới một miếng đất trống, thấy có một chiếc ghe hư đẩy lên để đó mà sửa
lại. Trước mũi ghe có một cái ụ ở ngoài mé kinh chạy vô tới đó thì cùng. Cách
cái ụ ghe chừng vài chục thước thì có một cái nhà lá nhỏ trong nhà đèn đốt leo
lét, có trẻ nhỏ hai ba đứa chạy ra chạy vô lăng xăng. Thằng Ðược đi tới chỗ chiếc
ghe đó, nó dòm tứ phía không thấy có cái nhà nào tử tế thì trong bụng nó nghĩ
thầm chắc là thầy nầy đi mướn ghe mà đưa mình về nhà cha mẹ, chớ không lẽ cha mẹ
mình ở chỗ dơ dáy nghèo hèn như vậy. Bởi nó nghĩ như vậy nên khi đi tới cái nhà
lá nhỏ có đốt đèn leo lét đó, thầy Lợi bước vô nhà thì nó đứng ngoài sân với thằng
Bĩ chớ không chịu vô.
Thầy Lợi nói nhỏ nhỏ ít tiếng
với mấy người trong nhà, hai đứa nó đứng ngoài nghe không được, rồi thầy bước
ra ngoắt thằng Ðược mà biểu rằng: "Vô đây cháu". Thằng Ðược xâm xâm
đi vô, thằng Bĩ cũng xách hai cây đờn với gói áo quần cũng men đi theo sau. Bước
vô nhà thấy có một người đàn ông, tuổi chừng bốn mươi, bộ vạm vỡ, không có râu,
mà tóc lại hớt cụt, mặc quần lãnh đen lưng xanh buộc một sợi dây nịt da ngang
qua bụng, choàng một cái áo bà ba vải trắng, cái ngực với bắp tay mặt lòi ra
thì thấy có xâm hình xâm chữ rậm ri. Trên cái võng giăng dựa vách thì có một
người đàn bà cũng chừng bốn mươi tuổi mặc quần vải đen và áo túi trắng mà cũ,
đương ngồi dở vú cho con nhỏ bú. Dựa cái võng ấy lại có bốn đứa nhỏ, đứa lớn
hơn hết chừng năm tuổi, đứa trần, đứa ở truồng, đương đứng mà dòm khách lạ.
Trong nhà chẳng có đồ đạc chi hết, chỉ thấy có một cái bàn cũ để đèn để tô, để
khay trầu với một bộ ván dầu mà thôi.
Thằng Ðược đứng bợ ngợ,
ngó người nầy rồi ngó người kia, không nói chi hết. Thầy Lợi nắm tay kéo nó bước
tới một bước, rồi nói với chủ nhà rằng: "Hai ông bà mất con mười mấy năm
nay cậy tôi kiếm giùm, nay tôi kiếm được rồi đó, vậy nhìn coi có phải hay
không". Người ấy ngó thằng Ðược rồi nói: "Phải, nó giống mấy đứa nhỏ
của tôi quá. Thầy có lòng kiếm giùm, vậy xin để bữa nào rảnh tôi sẽ qua nhà mà
đề ơn thầy".
Thầy Lợi cười rồi nói với
thằng Ðược rằng: "Ðó cha mẹ cháu đó đa, còn mấy đứa nhỏ nầy là em của
cháu. Thôi tìm được rồi, vậy tôi giao cho hai ông bà tôi về kẻo khuya. Tôi kiếu
nhé, Cháu ở đó nghe hôn".
Thầy Lợi lấy nón ra về, chủ
nhà không đưa ra cửa. Thằng Ðược bấy lâu nay tưởng cha mẹ nó là người giàu có
ruộng nhiều, nhà tốt, chẳng hề khi nào mà trong trí nó có tưởng tượng cha mẹ nó
là người lam lụ đến thế bao giờ, nay nó thấy nhà xịch xạc, người nghèo hèn song
nó cũng chẳng có chút nào buồn trong lòng. Tuy vậy mà chẳng hiểu vì cớ nào bấy
lâu nay nó thường ao ước gặp cha mẹ đặng có thổ lộ những hồi cực khổ những lúc
buồn rầu cho cha mẹ nghe mà nay giáp mặt rồi sao nó lại ngại ngùng trong lòng,
không nói chi được hết. Nó đứng bợ ngợ, tía nó ngồi trên ván vấn thuốc hút rồi
hỏi rằng:
- Còn thằng đi theo với mầy
đây là con ai?
- Nó là anh em bạn của
con. Mấy tháng nay con kết làm anh em với nó đặng dắt nhau đi đờn cho họ nghe
mà kiếm cơm ăn.
Má nó nghe nói vậy mới hỏi:
- Chà! Bây biết đờn hay
sao?
- Dạ thưa biết.
- Bây giờ mầy về ở đây nó
cũng theo mà ở với mầy nữa sao?
- Dạ.
Tía nó hút thuốc phà khói
ra nghi ngút rồi nói rằng: "Nhà chật quá, bây giờ có chỗ đâu cho hai đứa
nó ngủ". Má nó đáp rằng: "Không hại gì đâu. Hai đứa nó lấy manh chiếu
đem trải trên chiếc ghe chun vô đó mà ngủ cũng được mà". Chong đèn thủng
thẳng lu mờ lần lần. Tía thằng Ðược nắm lắc rồi nói rằng: "Hồi chiều sao
không biểu bầy trẻ mua dầu thêm, hết dầu rồi còn gì". Má nó nói: "Tôi
quên lửng mà khuya rồi, thôi sửa soạn mà ngủ đốt đèn chi nữa. Nầy con, con lại
lấy manh chiếu rồi đem trải ngoài chiếc ghe đẩy lên bờ đó mà ngủ đỡ, ít bữa nữa
mua thêm ván rồi sẽ ngủ trong nhà".
Má nó vừa nói vừa chỉ chiếc
chiếu để trên ván. Thằng Ðược bước lại ôm chiếc chiếu bước ra ngoài sân, thằng
Bĩ cũng xách đồ đi theo. Hai đứa nó leo lên ghe trải chiếu vừa xong, ngó ngoái
vô nhà thì đèn đã tắt rỗi. Thằng Ðược nằm nghiêng day mặt vô be ghe, thằng Bĩ để
hai cây đờn với gói áo phía trên đầu rồi cũng nằm một bên đó.
Hai đứa nằm nín khe mà
cũng không cục cựa, mỗi đứa đều suy nghĩ riêng. Trời khuya lần lần, gió thổi
lao rao, tứ bề im lìm, một lát nghe xa xa có tiếng chó sủa, hoặc nghe dưới kinh
có tiếng ghe chèo sạt sạt, hoặc nghe trong nhà có tiếng con nít khóc. Gần nửa
đêm thằng Ðược nằm nghiêng một bên mỏi vai, nên trở mình đụng nhằm thằng Bĩ. Thằng
Bĩ cười nhỏ rồi lấy tay rờ mặt thằng Ðược mà hỏi rằng:
- Mầy không ngủ sao không
nói chuyện chơi mây?
Thằng Ðược ngó vô nhà rồi
hỏi nhỏ rằng:
- Mầy cũng còn thức hay
sao?
- Tao nghĩ tao tức cười
quá nên ngủ không được
- Cười giống gì?
- Tao tức cười là vì mầy
mơ ước gặp được tía má mầy. Nay gặp rồi, tao thấy vậy tao tức cười quá.
- Mầy nói đó là nói bậy
đa. Thiệt thuở nay tao tưởng tía má tao giàu bởi vì nếu nghèo mà sao hồi má
nuôi tao xí được, tao bận đồ tốt dữ vậy mà lại có đeo dây chuyền vàng tây nữa.
Hôm trước về dưới Mỹ Lợi má nuôi tao thuật lại chuyện tía má tao đương tìm tao,
thì cũng còn nói tía má tao giàu lớn nữa. Tao nghe như vậy tao mừng, mà tao mừng
không phải là tao trông giàu đặng có của sẵn cho tao xài phá, tao mừng là vì nếu
tía má tao giàu tao mới có thể đền ơn má nuôi tao, mới có thể mà nuôi mầy với
con Liên đặng cho mấy người thương tao bấy lâu nay hết cực khổ nữa chớ. Nay gặp
tía má tao rồi, tuy tía má tao nghèo phải vì đó mà tao hết vùi đâu. Tao càng mừng
nhiều lắm chớ, Trong ý mầy tưởng cha mẹ giàu có mới nên nhìn, còn cha mẹ nghèo
khổ thì bỏ hay sao?
- Không, tao có nói như vậy
đâu.
- Chớ mầy tức cười giống
gì?
- Ðể tao nói thiệt cho mầy
nghe. Thiệt hổm nay tao cũng tưởng tía má mầy giàu lắm nên tao tính hễ mầy gặp
tía má mầy rồi thì tao đi, chớ không thèm theo mầy nữa, bởi vì phận tao côi cút
nghèo nàn chừng mầy giàu tao theo mầy nữa thì nhọc lòng mầy chớ không ích gì.
Nay tao thấy tía má mầy nghèo, tao nhớ lại thì sự mầy tưởng đã bậy mà tao tính
cũng bậy nên tao tức cười chớ phải tao ngạo mầy hay sao. Nè, Ðược, mà tao nghi
hai người đó không phải là tía má mầy đâu.
- Ê! Ðừng có nói bậy, mấy
thấy tía má tao nghèo mầy muốn xúi tao phụ tía má tao hay sao?
- Không phải, để tao nói
cho mầy nghe. Tao nghi là vì tao coi mầy không giống hai người đó chút nào hết,
mà mấy đứa nhỏ cũng không giống mầy nữa.
- Mầy nói bậy. Sao mầy biết
không giống? Mình giống cha giống mẹ, giống anh giống em là giống máu thịt, giống
gân cốt, giống tướng đi, tướng đứng chớ phải là giống nội cái mặt đó mà đủ hay
sao. Mà mầy mới thấy một lần làm sao mầy biết tao không giống được.
- Hồi hôm tao đứng trong
nhà đó tao cố ý coi kỹ lắm. Thiệt mầy không giống chút nào hết, mà tao coi mầy
lại giống người trong khuôn hình treo nhà thầy Lợi đó lắm.
- Hình nào đâu?
- Hình treo trên cửa buồng
của thầy đó.
- Hình người bịt khăn đen
đó phải hôn?
- Ờ.
- Mầy nói bậy..
- Mầy cứ nói tao bậy hoài;
tao chắc rằng hai người ở trong nhà đây không phải là cha mẹ mầy, nếu mầy không
tin tao thì để thủng thẳng rồi mầy coi.
- Sao mầy dám nói như vậy?
- Mầy nói má nuôi mầy xí
được mầy hồi mới năm sáu tháng. Hồi đó mầy mặc áo tốt mà lại có đeo dây chuyền
đó nữa, thì chắc mầy là con nhà giàu. Người nầy nghèo quá đâu có áo tốt mà cho
mầy bận.
- Không biết chừng hồi trước
tía má tao giàu rồi sau mới nghèo.
- Tao cũng cho mầy cãi sướt
cái đó đi. Tía má mầy mất mầy đã mười bốn, mười lăm năm nay, sao thuở nay không
đi kiếm để đến bây giờ mới kiếm mà nhìn. Mà chớ chi tía má mầy giàu có hoặc
không có con, thì kiếm mầy cũng cho là phải, chớ ngưòi đó bộ nghèo quá mà con tới
năm đứa, trai gái có đủ, không có áo quần cho nó bận còn đi kiếm thêm mầy đem về
nữa mà làm gì.
- Mấy nói nghe kỳ quá! Ai
có con lại không thương, nói như mầy vậy hễ có con nhiều thì nó còn hay mất
cũng không cần gì hay sao?
- À, mầy nói tại má mầy
thương tiếc mầy nên mới tìm mầy phải hôn?
- Chớ sao.
- Ai cũng vậy, mất con đã
mười bốn mười lăm năm nay, thương nhớ nó lắm nên tìm nó mà nhìn. Nếu gặp mặt
con thì tự nhiên mừng rỡ, nhứt là bà mẹ ôm con mà khóc, chớ sao hồi hôm mầy bước
vô nhà, tía má mầy bảng lảng bơ lơ, không mừng rỡ chút nào, không rờ tới mình mầy,
mà cũng không hỏi thăm coi nhỏ lớn ai nuôi mầy, mầy ở chỗ nào, có cực khổ đau ốm
gì hay không?
- Tại hồi hôm má tao mắc dỗ
em ngủ, còn tía tao tánh lạt lẽo nên không mừng rỡ cho lắm chớ.
- Mầy còn cãi nữa chớ. Tức
quá! Dẫu thế nào đi nữa cũng phải tỏ dấu mừng một chút chớ. Nè, mà thình lình
thầy Lợi dắt mầy tới, thầy nói mầy là con, nếu tía má mầy không mừng thì phải
nghi rồi hỏi mầy coi hồi người ta xí được mầy đó mầy bận áo gì, chớ sao không mừng
mà cũng không nghi chút nào hết vậy. Tao sợ họ lập mưu kế hại mầy, chớ không phải
là cha mẹ đâu. Mầy không tin tao để rồi mầy coi. Hai người đó coi bộ kỳ quá mà!
- Ðừng có nghi bậy không
nên.
Thằng Ðược tuy ngoài miệng
cãi với thằng Bĩ, song nó xét lời của thằng Bĩ có nhiều chỗ hữu lý nên trong
lòng cũng nghi nghi chút đỉnh. Nó nằm suy nghĩ hoài ngủ không được, một lát nó
chắc là phải tía má nó, bởi vì, nếu không phải thì nhìn nó làm gì, rồi một lát
nó lại nghi, bởi vì, nếu phải tía má nó thì có đâu mà lơ lảng quá vậy.
Chương 9
Tảng sáng hai đứa nó thức
dậy leo xuống đi vô nhà, thấy mấy đứa nhỏ chôn rộn, đứa đòi cơm đứa đòi bánh.
Tía thằng Ðược mặc quần vắn, áo lá, la hét om sòm một hồi rồi lấy một cái nón nỉ
đen rách đội mà đi. Má nó nấu cơm rồi dọn ăn, có vài khứa cá mấy đứa nhỏ ép đũa
vô gắp vài bận thì hết, thằng Ðược với thằng Bĩ thấy vậy nên ăn cơm lạt chớ
không dám thò đũa vô. Ăn hết chén cơm rồi muốn xúc thêm mà dòm trong nồi thì trống
trơn, nên phải gác đũa mà leo xuống.
Thằng Ðược với thằng Bĩ
ngày nào ăn cơm cũng không no nên phải mua bánh thêm mà ăn; mà hễ mua bánh thì
phải mua cho mấy đứa em nó ăn nữa, nên mỗi bữa tốn hết vài ba cắc bạc. Ban ngày
thằng Ðược lại phải phụ với má nó mà nấu cơm, rửa chén, coi em; còn thằng Bĩ
thì thả đi chơi hoài không chịu làm việc chi hết. Ban đêm thì hai đứa cứ ngủ
trên chiếc ghe bể, thằng Bĩ cứ theo nói rằng thằng Ðược bị người ta gạt chớ
không phải cha mẹ nó là hai người đó; hễ nói thì thằng Ðược rầy mà nó cũng theo
nói hoài.
Qua đêm thứ ba, hai đứa nó
đương ngủ thình lình nghe có tiếng người ta đi động đất thình thịch. Thằng Bĩ
ngồi dậy dòm dưới đấy thì thấy có ba người vác đồ đi vô nhà mà trong nhà tối
thui, không có đèn mà cũng không nghe nói tiếng chi hết. Nó lúc lắc thằng Ðược
thức dậy rồi chỉ cho thằng Ðược coi. Sáng ngày sau hai đứa vô nhà thì thấy dựa
vách có một đống đồ ngoài đậy lá chằm kín mít không biết là đống gì. Tối bữa
sau lối mười một giờ thiên hạ ngủ im lìm, hai đứa nó lại thấy có một chiếc ghe
tam bản ở ngoài kinh chống vô ụ rồi hai người dưới ghe dở cửa vô nhà vác đồ đem
xuống ghe, có tía thằng Ðược phụ vác với họ nữa, rồi ghe chống trở ra kinh mà
đi, nghe nói nhỏ nhỏ nên không hiểu là chuyện gì. Khuya thằng Bĩ kêu thằng Ðược
thức dậy mà nói rằng hổm nay nó đi chơi là có ý muốn dọ coi tía thằng Ðược làm
nghề gì. Bữa nào nó cũng thấy khiêng vác hàng trên tàu đem xuống ghe, hoặc dưới
ghe đem lên tàu. Nó chắc tía thằng Ðược ăn trộm hàng hóa đem về nhà mà giấu rồi
ban đêm lén kêu người ta mà bán. Nó biểu thằng Ðược phải trốn mà đi, chớ ở đây
sợ e chẳng khỏi mang họa.
Thằng Ðược nghe nói giận đỏ
mặt mới rầy nhỏ nhỏ rằng:
- Mấy có tài nói bậy bạ
hoài. Sao mầy biết tía tao ăn trôm. Chuyện gì mình không biết chắc thì đừng có
đề quyết như vậy.
- Tao dọ rồi mầy ơi? Tía mầy
ăn trộm đồ dưới tàu mà bán cho khách trú.
- Mà dẫu tía tao có làm quấy
như vậy nữa, tao là đạo làm con, mầy bảo tao bỏ tía tao mà đi hay sao?
- Có phải tía mầy đó sao?
- Nữa! Mầy cãi hoài.
- Tao nói mầy ở đây có
ngày ở tù.
- Tao làm việc gì quấy mà ở
tù?
- Ừ! Mầy cãi tao để rồi mầy
coi.
Thằng được nghe nói ở tù
thì nhớ chuyện thầy nó bị ở tù dưới Trà Vinh nói cực khổ không biết chừng nào,
nên nó sợ quá, nằm lo hoài không ngủ. Ðêm ấy cũng thấy vác đồ về nhà nữa, rồi
đêm sau cũng thấy có ghe tam bản đến chở đồ ấy đi. Hai đứa có ý để coi hễ đêm nào
có ghe đến chở đồ rồi thì sáng bữa sau có hai người mặt mày dữ tợn đến nhà, rồi
tía thằng Ðược lấy bạc mà đưa cho hai người đó, lại nói chuyện với nhau nho nhỏ
một hồi rồi dắt nhau đi.
Thằng Ðược ở trót mười
ngày chẳng hề thấy cha mẹ tỏ ý gì thương yêu nó hết, mà bị đói bụng mãi mà
thôi. Chiều bữa nọ mấy đứa em nó dắt nhau đi chơi hết, còn má nó đi ra phía
đàng sau, nó mới lén giở lá chằm coi đống gì để dựa vách đó. Nó thấy có ba cái
thùng lớn với hai gói giấy nhúng dầu, nó muốn coi thử coi cho biết vật gì ở
trong, song sợ má vô nên lật đật đậy lại không dám coi lâu. Ðêm ấy lối mười giờ
nó với thằng Bĩ đương ngủ bỗng nghe có tiếng người ta nói om sòm, lật đật ngóc
đầu dòm coi thì thấy nhà trong đốt đèn sáng quắc, có hai ba người lính đứng bao
chung quanh nhà còn trong nhà lại thấy có hai ông Tây và hai người lính Việt
Nam nữa. Hai đứa nó sợ quýnh nên nằm xuống ôm nhau giả như ngủ. Cách một hồi
nghe lính biểu: "Còng hết hai vợ chồng nó đi", lại nghe tiếng đàn bà
nới: "Bắt tới tôi nữa, rồi ai coi nhà cho tôi, sắp con tôi bỏ cho
ai", rồi có tiếng trả lời rằng: "Dắt hết mấy đứa con theo, còn nhà
thì để đó có lính giữ".
Hai đứa nó nghe như vậy
thì sợ hết hồn hết vía nên nằm nhắm riết mắt lại và nín hơi không dám thở. Cách
một hồi nghe kẻ vác đồ, người đi theo động đất thình thịch, lại nghe sắp nhỏ
khóc om sòm, rồi vắng tanh không nghe chi nữa hết. Hai đứa nó mới lén ngóc đầu
dòm vô nhà thì thấy có một tên lính nằm tại bộ ván giữa nhà mà day mặt vô buồng.
Hai đứa nó không dám nói chuyện chi hết, mà cũng không dám cựa quậy. Ðến bốn giờ
khuya thằng Bĩ ngồi dậy dòm vô nhà nó thấy tên lính nằm ngủ khò khò nó mới kéo
thằng Ðược thức dậy rồi xách gói đồ với hai cây đờn sẽ lén leo xuống dắt nhau bỏ
mà trốn.
Hai đứa nó qua khỏi miếng
đất trống rồi mới đi theo đường nhỏ mà ra lộ. Ngoài lộ đã có người gánh rau
bưng gà đem qua chợ Bến Thành mà bán. Hai đứa nó đi theo họ song trong bụng còn
hồi hộp hoài nên không nói chuyện chi hết. Qua tới cầu Khánh Hội thì trời đã hừng
sáng, thiên hạ kẻ qua người lại dập dìu. Thằng Ðược níu áo thằng Bĩ biểu ngồi
trên lề cầu mà nghỉ. Thằng Bĩ nghe lời ngồi xuống, thằng Ðược mới nói rằng:
- Bây giờ mày dắt tao đi
đâu?
- Ði trốn, chớ đi đâu.
- Cha mẹ tao đương bị hoạn
nạn, tao không thể cứu giúp được thì cũng ở đó mà coi nhà mới phải, chớ lẽ nào
bỏ mà đi cho đành.
- Tao đã nói không phải
cha mẹ mầy đâu.
- Mầy cứ nói bậy bạ hoài.
- Thiệt chớ! Nè, mà nếu
mình không trốn mà đi thì chắc chẳng khỏi bị bắt nữa. Mình không biết việc chi
hết mà bị ở tù cũng ức lắm chớ, phải hôn?
Thằng Ðược ngồi gục mặt xuống
đất lặng thinh bộ buồn bực lắm. Cách một hồi nó ngước lên mà nói rằng: "Mầy
đi đâu thì đi đi, tao trở lại, chớ tao đi không đành. Nói rồi liền đứng dậy đi
trở lộn lại. Thằng Bĩ xách đồ chạy theo nắm tay thằng Ðược mà kéo xên không cho
trở lại. Thằng Bĩ mạnh mẽ vạm vỡ nên nó nắm thằng Ðược vùng không nổi túng thế
phải đi theo nó mà qua cho Bến Thành.
Ði dọc đường thằng Ðược muốn
lại nhà thầy Lợi mà thuật hết mọi việc nó đã thấy hồi hôm cho thầy ghe. Thằng
Bĩ cản kkông cho đi lại nói rằng: "Mầy lại đó mầy bị a; cậu đó không phải
thương gì mầy đâu. Thôi tao với mầy dắt nhau đi đờn ca mà kiếm ăn như năm ngoái
vậy cho xong". Thằng Ðược muốn trở về chợ Mỹ Lợi đặng tỏ hết mọi việc cho
má nuôi nó nghe kẻo má nuôi nó trông. Thằng Bĩ cũng cản nữa, nói rằng trở về đó
không ích gì, chi bằng dắt nhau đi Lục tỉnh trước cho biết xứ nầy xứ kia chơi,
sau tìm con Liên luôn thể. Thằng Ðược nghe nói tới con Liên thì trong bụng nó
khoan khoái nhưng mà hễ nhớ tới cha mẹ nó bị bắt thì nó buồn hết sức.
Hai đứa nó dắt nhau lại
nhà giấy xe lửa nhỏ ngồi đờn chơi một chập; thầy xếp ga đứng nghe. Thằng Ðược
làm quen rồi xin thẩy một miếng giấy, lại mượn viết mực mà viết thơ kể hết các
việc tìm cha mẹ thế nào và tại sao cha mẹ nó bị bắt cho Ba Thời nghe. Nó lại gạch
thêm rằng nó đi Cần Thơ mà tìm con Liên và chừng nào nó làm có tiền nhiều rồi sẽ
trở về thăm nữa. Thơ viết rồi nó mới xin một cái bao phong lại và đề gởi cho Ba
Thời ở làng Bình Thạnh Ðông. Hai đứa nó lên nhà thơ mua cò gắn mà gởi xong lồi
mới dắt nhau đi ăn cơm cho no đặng có đi Lục tỉnh.
Thằng Ðược với thằng Bĩ ra
khỏi Sài Gòn thì trong lưng còn có bảy cắc bạc, nhưng mà chẳng đứa nào lo sợ hết
tiền nhịn đói bao giờ, bởi vì hai đứa nó tuy không nói ra song trong bụng ỷ thầm
hễ có hai cây đờn thì chúng nó chẳng hề khi nào chết đói. Thằng Bĩ dòm coi ý thằng
được không vui vẻ như khi trước nên kiếm chuyện mà ghẹo chọc hoài, lúc thì nhắc
con Liên rồi tính hễ gặp thì dắt luôn nó đi theo cho vui, lúc thì nhắc ông thầy
tướng rồi cười thằng Ðược tin chi những người dối thế.
Hai đứa nó đi bộ từ Sài
Gòn xuống Mỹ Tho, tới chỗ nào đông nhà thì đờn ca, kẻ cho ăn cơm người cho tiền,
nhờ có như vậy nên xuống tới Mỹ Tho thì đã có được năm đồng bạc. Hai đứa nó mới
đi tàu qua Cần Thơ, mà tàu vừa ra khỏi bến chúng nó đờn chơi một chập đã kiếm
được vài đồng bạc gần đủ trả tiền tàu. Khi tàu chạy tới Nước Xoáy thằng Ðược mới
chỉ chỗ nó ngồi đờn ca với con Liên và chỗ ghe bà Hội đồng đậu cho thằng Bĩ
coi. Thằng Ðược thấy cảnh động tình mới tính đặt thêm một bài ca điệu hành vân,
đặng tả cái lòng mình thương nhớ em nên đi tìm nó.
Tới Cần Thơ hai đứa nó đi
rảo khắp các nẻo đường hỏi thăm bà Hội đồng có một chiếc ghe bầu tốt, có một đứa
con trai chừng chín mười tuổi, năm ngoái nó đau nên bà chở lên Sài Gòn cho nó uống
thuốc. Ai nghe hỏi cũng cười, bởi vì ở Cần Thơ có nhiều bà Hội đồng mà bà nào
cũng có con nên có biết chắc ai đâu mà chỉ. Hai đứa nó nghe nhà Hội đồng nào
cũng đều tới hết thảy, mà tới nhà nào cũng không phải là nhà bà Hội đồng nuôi
con Liên. Ở tại chợ Cần Thơ tìm trót sáu bữa mà không ra mối. Thằng Ðược mới
nói với thằng Bĩ rằng chắc bà nầy ở trong ruộng chớ không phải ở tại Châu
Thành, nên mới dắt nhau vô trong làng mà kiếm. Chúng nó vô Cái Răng ở hai ba
ngày mà kiếm không được, mới dắt nhau trở ra Cần Thơ rồi lên Bình Thủy.
Hai đứa lên tới Bình Thủy
thì trời chạng vạng tối rồi. Chúng nó kiếm quán mua cơm ăn, rồi dắt nhau đi dài
theo mé rạch hỏi thăm coi có bà Hội đồng nào hay không. Họ nói đi vô trong một
chút có nhà bà Hội đồng Nhàn, hễ gặp cái nhà ngói nào lớn, chung quanh cọc rào
sơn li sắt, trước có cửa ngõ sắt và có cầu mát thì là nhà của bà. Hai đứa nó đi
chừng một trăm thước thiệt quả thấy có một tòa nhà ngói lớn ở hụp vô trong xa.
Phía trước có sân lớn trồng quít, mận, sa-bô-chê và bông hoa kiểng vật dẫy đầy,
phía sau vườn cau, chuối, dừa, rất thạnh mậu. Dọc theo mé sông có rào sơn lì sắt,
trước có cửa ngõ sắt sơn đỏ lòm và ngoài sông lại có cất một cái nhà mát rất đẹp.
Hai đứa nó chắc nhà nầy là nhà bà Hội đồng họ chỉ đó, thấy trong nhà đèn đốt
sáng trưng, song cửa ngõ đóng chặt, mà lại không thấy ai ra vô nên không biết
làm sao mà hỏi thăm cho được. Thằng Ðược đi mút đầu hàng rào thì thấy có một
cái ụ ghe, dòm vô trong xa thấy có một chiếc ghe đậu đó song bị trời tối mà lại
bị cái giại[1] cất đặng che chiếc ghe làm cho tối thui nên không thể nhìn
chiếc ghe được.
Hai đứa nó đắt nhau trở lại
cái nhà mát ngồi nghỉ chơn, có ý trông coi trong nhà có ai đi ra, hoặc lối xóm
có ai đi ngang qua đặng hỏi thăm. Ngồi đợi một hồi lâu thằng Bĩ buồn trí mới bứt
một lá cây mà thổi kèn theo điệu hành vân. Thằng Ðược hứng chí nên ca hòa theo
cái bài nó mới đặt dưới tàu tả về sự nó thương nhớ nên đi tìm con Kim Liên. Bài
ca ấy như vầy:
CA ÐIỆU HÀNH VÂN
Tủi phận mình, là tủi phận mình
Ðất khách linh đinh
Từ khi cách mặt.
Anh Bắc em Nam
Tuy không một bọc,
Mà thương nhau như ruột.
Vì gian truân,
Hẩm hút bấy lâu.
Chuyên một nghề
Ðờn ca với nhau.
Nay em cách biệt,
Chẳng biết phương nào.
Gan ruột như bào,
Vái cùng trời tìm nhau gặp nhau
Mấy năm kết bạn
Thảm đạm trăm bề
Quyết học tài nghề,
Chạnh nỗi thầy vội vã về âm cung.
Nhũng lần hồi, tìm kiếm em ta
Trời xin chứng, chứng sao khiến xui gặp nhau.
Thằng Ðược ca dứt bài rồi
liền nằm dài trên cái băng day mặt ra ngoài sông, miệng thì hút gió, còn tay
thì nhịp trên băng. Thằng Bĩ lấy cây đờn cò sửa ngựa, vừa muốn lên dây, bỗng
nghe có tiếng kêu: "Anh Ðược! Phải anh đó hay không, anh Ðược?". Thằng
Ðược lồm cồm ngồi dậy, dòm vô cửa ngõ sắt thì thấy có một đứa nhỏ đứng khuất hết
cái mình, duy thấy nội cái đầu mà thôi, mà lại bị trời tối nên không biết con
trai hay con gái. Thằng Ðược hỏi: "Ai kêu tôi đó? Em Liên đó phải hay
không em?". Nó nghe trả lời: "Phải, em đây. Sao anh biết em ở đây mà
đến?".
Thằng Ðược mừng quýnh lật
đật chạy lại cửa ngõ vừa cười vừa nói: "Cha chả! Hổm rày qua đi kiếm em dữ
quá. Làm sao mở cửa cho qua vô với. Có bà Hội đồng nhà hay không? Thằng con bả
mạnh chưa? Mở cửa đi, mở cửa qua vô rồi qua nói chuyện hết cho em nghe".
Con Liên ngó ra cầu mát thấy
thằng Bĩ ngồi đó liền hỏi:
- Ai đi với anh đó vậy?
- Thằng Bĩ đa.
- Thằng Bĩ nào?
- Anh em bạn của qua.
- Còn thầy đâu?
- Thầy chết rồi.
- Trời đất ôi! Chết ở đâu?
Chết hồi nào?
- Năm ngoái qua phân rẽ với
em mà đi với thầy, đi được ít ngày rồi kế thầy chết. Mở cửa đi em, mở cửa cho
qua vô.
- Thầy đau bịnh gì mà chết
vậy?
- Ừ! Thầy bị bịnh. Mở cửa
đi em.
- Tôi không có chìa khóa.
Anh đứng đây để tôi vô thưa cho cô hay rồi cô biểu bầy trẻ ra mở cửa.
- Cô nào?
- Bà Hội đồng đó.
- Sao em kêu bằng cô?
- Ừ, bà biểu em kêu bằng
cô.
- Thôi, em đi đi. Qua đứng
đây qua đợi.
Thằng Ðược thấy con Liên
đi rồi nó mới trở ra cầu mát kêu thằng Bĩ mà nói rằng:
- Bĩ, gặp rồi mầy ơi, may
quá.
- Con Liên đó phải hôn?
- Ừ, nó đó đa. Mầy thấy nó
hôn? Ðể rồi nó ca cho mầy nghe, ca hay lắm, mà lại nhỏ nhoi dễ thương nữa.
- Nó đi đâu rồi?
- Nó vô lấy chìa khóa đặng
mở cửa cho mình vô.
Hai đứa nói mấy lời rồi đứng
chong mắt ngó vô nhà mà trông con Liên. Thằng Ðược khoan khoái trong lòng đứng
ngồi không yên, nên đi tới đi lui một hồi rồi lại đứng ngay cửa ngõ mà dòm. Một
lát nó thấy con Liên trong nhà bước ra sân, song không đi thẳng ra cửa ngõ, lại
đi xéo xéo lại góc rào rồi kêu nó. Nó tưởng là con Liên mở cái cửa nào chỗ đó
nên biểu thằng Bĩ lấy đồ đạc rồi ôm chạy lại đó. Hai đứa nó vừa đi tới thì thấy
con Liên ở trong rào ló đầu lên kêu nhỏ nhỏ mà nói rằng; "Anh Ðược, cô biểu
tôi ra nói với anh lập tức đi ra ngoài đầu cầu đúc ngồi mà chờ. Một lát sẽ có một
cái xe hai bánh ra rước anh, cô dặn anh phải nghe theo lời người ra rước anh
đó, họ biểu đi đâu anh cứ nghe theo lời họ chớ đừng có cãi, bởi vì bây giờ anh
vô nhà không được. Thôi, đi đi cho mau. Anh biết cầu đúc hay không? Cái cầu lớn
bắc ngang qua sông nầy đặng đi xuống Cần Thơ đó là cầu đúc đa".
Con Liên nói mấy lời rồi
trở vô nhà. Thằng Ðược không hiểu vì cớ nào nhà bà Hội đồng không cho vô mà lại
biểu ra cầu đúc rồi sẽ có xe rước. Xe rước đi đâu? Rước chi vậy? Bả không muốn
cho mình gặp con Liên hay sao? Thằng Ðược dắt thằng Bĩ trở ra cầu đúc, vừa đi
và hỏi thầm mấy câu ấy hoài, mà trong lúc ngồi chờ cũng hỏi thầm như vậy nữa.
Thằng Bĩ thấy thằng Ðược suy nghĩ quá như vậy thì tức cười rồi vùng nói rằng:
"Coi bộ mầy lo giống gì dữ vậy mấy? Bây giờ mình biết chỗ con Liên rồi, nếu
đêm nay mình không gặp nó được, thì sáng mai mình gặp, có việc gì mà phải lo,
Thằng Ðược không trả lời cứ ngồi ngó lộn vô phía nhà bà Hội đồng hoài.
Cách chừng mười lăm phút đồng
hồ thấy có một cái xe hai bánh ở trong ấy chạy ra. Hai đứa nó đứng dậy, có ý
dòm coi có phải là con Liên hay là bà Hội đồng chăng. Xe chạy tới ngừng lại thì
thấy trên xe có một người đàn bà choàng hầu khăn trắng, thằng Ðược tưởng là bà
Hội đồng nên xăm xăm đi lại. Người ấy hỏi: "Em phải tên Ðược hay không? Thằng
Ðược thưa phải. Người ấy liền biểu lên xe đặng đi xuống Cần Thơ. Thằng Ðược
không hiểu vì cớ nào không cho nó vô nhà mà lại đưa nó trở xuống Cần Thơ, bởi vậy
cho nên nó đứng dụ dự rồi hỏi rằng:
- Xuống Cần Thơ làm gì?
Tôi đến đây là có ý muốn kiếm con Liên đặng thăm nó chớ...
- Ậy! Em đừng có cãi. Bà Hội
đồng dạy qua đưa em xuống nhà hàng dưới Cần Thơ mà nghỉ, rỗi sáng mai bà dắt
con Liên xuống thăm em, chớ bây giờ cho em vô nhà không được. Em đừng có ngại
gì hết. Không có hại gì đâu. Lên đi kẻo khuya rồi xuống nhà hàng kêu cửa khó lắm.
Thằng Ðược kêu thằng Bĩ
đem đồ đạc để trên xe rồi hai đứa leo lên ngồi dựa bên người đàn bà ấy. Tên
đánh xe ngồi dưới thùng xe giựt cương quất ngựa chạy như dông.
Ðường tuy quanh quẹo, song
ban đêm không có ai đi, nên xe chạy vùn vụt, gió thổi lạnh lạnh. Gần chín giờ
xe xuống mới tới Cần Thơ, chạy vòng lại đậu trước nhà hàng lớn. Người đàn bà ấy
leo xuống, rồi đi thẳng vô nhà hàng. Thằng Ðược ngó vô nhà hàng thì thấy đèn
khí sáng trưng, có một người mặc đồ tây đương đứng tại cửa mà dòm ra ngoài đường.
Người đàn bà ấy vô nhà hàng nói chuyện với người mặc đồ tây đó một hồi, không
biết nói chuyện gì, mà người ấy chạy ra nắm tay hai đứa nó dắt vô, bộ niềm nở hết
sức. Người đàn bà ấy nói với chúng rằng: "Thầy nầy là chủ nhà hàng. Bà Hội
đồng dạy qua đưa hai em xuống đây mà nghỉ. Hai em muốn ăn vật chi cũng được hết
thảy, song bà căn dặn hai em phải ở đây chớ đừng có đi đâu. Hễ bồi dọn phòng rồi
hai em lên mà nghỉ".
Nói dứt lời rồi day lại dặn
chủ nhà hàng rằng: "Bà Hội đồng biểu tôi nói với thầy phải hết lòng giùm
cho bà. Hai em muốn ăn uống, muốn mua vật chi thầy cũng phải làm cho vui lòng
nó, tốn hao bao nhiêu bà Hội đồng trả cho, không sao đâu mà ngại. Thầy nhớ nghe
hôn, đừng có cho đi đâu đa". Người đàn bà ấy nói rồi liền biểu bồi ra xe
xách đồ của hai đứa nó đem vô rồi mới từ giã lên xe mà đi.
Chủ nhà hàng dắt hai đứa
nó lên lầu, đem vô một cái phòng rộng lớn, có giường sắt, nệm ruột gà, mùng lưới
trải ra[2] trắng lốp, có bàn mặt đá, có bàn rửa mặt, có tủ kiếng, có ghế
tô-nê[3], mà lại có một bộ ván gõ láng bóng. Thằng bồi đương quạt mùng sửa đệm
thấy chủ nhà hàng với hai đứa nó bước vô thì làm riết rồi chạy xuống xách đồ đạc
đem lên phòng lại thưa với ông chủ nhà hàng rằng có khách mời ông xuống nói
chuyện. Ông chủ nhà hàng liền biểu hai đứa nó ở đó mà nghỉ, nếu muốn cần dùng vật
chi, thì cứ kêu bồi mà dạy nó làm cho. Chủ nhà hàng đi xuống rồi thằng bồi cũng
bước ra khép cửa phòng lại.
Thằng Ðược với thằng Bĩ đi
lại đứng tại cửa sổ mà ngó ra thấy sông rộng minh mông, có một chiếc ghe lớn
chèo ngang, mà xa xa lại có một chiếc tàu đốt một bên thì đèn đỏ, một bên thì
đèn xanh, kéo theo sau một đoàn ghe, chiếc nào cũng có đốt một cây đèn nên xem
đẹp lắm. Gió thổi hiu hiu mát mẻ, thằng Ðược đứng ngó một hồi rồi day lại vỗ
vai thằng Bĩ mà hỏi rằng:
- Cái gì mà kỳ cục vậy mậy?
- Cái gì ở đâu?
- Tại sao bà Hội đồng đưa
mình xuống đây mà lại dặn chủ nhà hàng phải ân cần săn sóc mình như vậy?
- Mầy quen với bả mà mầy
không biết thì tao làm sao mà biết được.
- Tao sợ bả muốn giựt con
Liên nên bày mưu kế chi đây.
- Bả làm sao mà giựt được.
Tao không lo: nếu bả giựt nó thì mình đến quan mà thưa chớ.
- Có phải nó là em ruột
mình đâu mà mình thưa được.
Hai đứa đang nói chuyện,
thình lình thằng bồi mở cửa xách vô một bình nước trà để vô trong giỏ rồi hỏi rằng:
"Sao hai cậu không lên giường nằm mà nghỉ?" Thằng Ðược ngó lại cái
giường thì thấy mùng nệm trắng rồi ngó lại áo quần thì thấy dơ dáy lắm nên
trong lòng lấy làm ái ngại, song cũng gượng mà đáp rằng: "Ðể đứng đây chơi
một chút". Thằng bồi lại hỏì: "Hai cậu muốn ăn uống vật chi hay
không? Ông chủ tôi dặn hễ hai cậu muốn dùng vật chi tôi cũng phải lấy hết thảy,
vậy hai cậu muốn ăn uống vật chi thì nói không có sao đâu mà ngại".
Thằng Ðược nghe nói thì
ngó thằng Bĩ và đứng ngẫm nghĩ một hồi rồi biểu: "Nếu có vậy, thôi anh cho
hai ly nước đá uống chơi". Thằng bồi cười chúm chím mà nói rằng: "Nước
đá lạnh ngắt ngon lành gì mà uống. Hai cậu muốn uống sữa nước hay không? Nếu
hai cậu chịu thì tôi làm hai ly sữa nước rồi tôi bỏ nước đá vô uống mới khỏe".
Thằng Ðược gật đầu lia lịa và nói rằng: "Ðược, được, nếu có sưa uống thì tốt
lắm".
Thằng bồi bước ra, thằng
Ðược mới lại giường, song ngồi ghé dựa thành giường chớ không dám nằm, thằng Bĩ
thì lại bàn rót nước trà mà uống. Thằng Bồi bưng hai ly sữa lên để giữa bàn,
hai đứa nó ngồi hai bên mà uống coi bộ đắc ý lắm. Uống hết sữa rồi mà hai cục
nước đá chưa tan, hai đứa nó mới hả miệng trút vô họng mà ngậm chơi, chừng nước
đá tan hết rồi mới vô mùng nằm mà ngủ.
Sáng bữa sau thằng Bĩ thức
dậy trước, lén dở mùng leo xuống rồi mở cửa phòng bước ra ngoài, tính đi kiếm
nước súc miệng rửa mặt. Thằng bồi đứng quét ở ngoài dòm thấy lật đật chạy lại hỏi:
- Cậu muốn đi đâu?
- Ði kiếm nước súc miệng.
- Có nước tôi múc sẵn
trong bầu đó; cậu vô đây tôi rót ra bồn cho cậu rửa.
Thằng bồi dắt thằng Bĩ trở
vô rồi rót nước biểu nó rửa mặt, lại lấy khăn lông trắng tươi đưa cho nó lau.
Nó lại chỉ cái thùng cho mà tiểu tiện nữa. Thằng Bĩ thấy được sung sướng quá
như vậy thì trong lòng nó khoái lạc không biết chừng nào. Thằng Ðược nghe lộn xộn
cũng thức dậy. Thằng Bĩ làm tài khôn chỉ chỗ cho thằng Ðược tiểu tiện và súc miệng
rửa mặt, rồi hai đứa nó lại đứng dựa cửa sổ mà ngó ra ngoài sông nữa. Cách một
hồi thằng bồi bưng lên một mâm cà phê sữa với bánh mì. Hai đứa nó ngồi ăn mà lại
ước phải có bánh cam ăn mới khoái hơn nữa. Thằng bồi tức cười, song cũng chạy
đi mua bốn cái bánh cam về cho hai đứa nó ăn.
Lối chín giờ hai đứa nó muốn
dắt nhau ra chợ chơi. Ông chủ nhà hàng không muốn cho đi, song ông không cản
ngay, ông kiếm nhiều lời êm ái ông nói, nên hai đứa trở lên phòng mà không phàn
nàn chi hết. Gần mười một giờ, chủ nhà hàng vào phòng kêu bồi biểu dọn cơm
trong phòng cho hai đứa nó ăn. Thằng bồi lật đật trải náp đặt bàn, lại có đem
lên hai cái ly với một ve rượu chát đỏ nữa. Thằng Ðược dòm thấy bèn hỏi thằng bồi
rằng:
- Anh dọn cơm Tây cho hai
đứa tôi ăn hay sao anh?
- Dạ.
- Thuở nay tôi chưa ăn cơm
Tây lần nào hết.
Thằng Bĩ xen vô mà nói:
- Ăn cơm Tây cũng như ăn
cơm ta vậy, song không có đũa chén chớ có lạ gì.
Thằng Ðược cười mà đáp rằng:
- Mầy làm hơi người thạo
hoài! Nếu không có chén đũa thì người ta có muỗng nĩa. Mà ăn thì ăn bánh mì chớ
không có cơm, phải vậy hay không anh bồi?
Thằng bồi dạ một tiếng, rồi
đi bưng đồ ăn. Hai đứa nó ngồi ăn, song để khăn một bên chớ không tháo ra mà
dùng. Thằng bồi thấy vậy mới tháo khăn đưa biểu choàng ngang ngực kẻo rớt đồ ăn
dơ áo quần. Thằng Bĩ không chịu lại nói rằng: "Thây kệ, áo quần của tôi sạch
sẽ gì mà sợ dơ nữa.
Chương 10
Hai đứa ăn vừa rồi kế nghe
ngoài cửa có tiếng giày đi rầm rầm, rồi lại nghe tiếng ông chủ nhà hàng nói:
"Thưa cô phòng số ba đó đa". Thằng Ðược không biết có chuyện chi, lật
đật chạy lại mở cửa mà coi. Nó vừa đưa tay ra thì cái cửa phòng mở bét ra, bà Hội
đồng bước vô với con Liên và thằng con bà. Bà Hội đồng thấy thằng Ðược liền ôm
đầu nó hun hai ba cái rồi hỏi rằng: "Mấy tháng nay con đi đâu hứ
con?". Thằng Ðược gặp bà Hội đồng với con Liên thì nó cũng mừng quýnh; nó
thấy con Liên mặc áo hàng bông phấn mới, quần lụa trắng cũng mới; chơn đi giày
thêu cườm cổ đeo dây chuyền, tai đeo hai đôi bông vàng, đầu lại cài lược có thắt
hàng màu bông hường, vai thì choàng một cái khăn thêu trắng tinh, còn thằng con
bà Hội đồng thì mặc đồ tây bộ tướng mạnh mẽ, chớ không phải nằm chúng chứng như
hồi gặp dưới ghe nữa. Nó mới hỏi bà Hội đồng:
- Thưa bà, thằng em đây
bây giờ thiệt hết đau rồi, bà há?
- Ừ nhờ cô đem nó lên Sài
Gòn uống thuốc gần một tháng nên nó mới mạnh đó đa, xưa rày con đi đâu? Á! Hồi
hôm con Liên nó nói ông thầy của con đã chết rồi, vậy chớ ổng chết hồi nào, ổng
đau bịnh chi mà chết vậy con?
Thằng Ðược kéo ghế mà ngồi;
bà Hội đồng cũng nhắc ghế ngồi dựa bên nó, còn con bà với con Liên thì leo lên
giường sắt mà ngồi. Thằng Bĩ lại đứng dựa cửa sổ mà ngó bà Hội đồng rồi ngó con
Liên, không nói chi hết, cứ chúm chím cười hoài. Thằng Ðược ngồi thuật hết đầu
đuôi mọi việc lại cho bà nghe. Nó nói đến lúc thầy trò mắc mưa rồi thầy ngồi tại
nhà giấy xe lửa Phú Lâm mà chết lạnh, còn nó thì nóng mê man họ chở vô nhà
thương mà nó không hay, thì con Liên khóc muồi, còn bà Hội đồng cũng lấy khăn
lau nước mắt. Chừng nó thuật tới lúc nó ra Sài Gòn kiếm bà Hội đồng mà kiếm
không được, ban ngày thơ thẩn ngoài đường, ban đêm vô vườn Bồ Rô mà ngủ thì bà
Hội đồng động lòng lắm nên đưa tay ra vuốt đầu nó mà miệng thì nói thỏ nhỏ rằng:
"Tội nghiệp thân con tôi quá!". Chừng nó nói tới hồi gặp thằng Bĩ rồi
hai đứa kết làm anh em dắt nhau đi đờn ca mà kiếm ăn thì bà Hội đồng với con
Liên day qua ngó thằng Bĩ rồi bà nói rằng:
- Thằng em đây là thằng Bĩ
đó sao?
- Dạ thưa phải.
- Lại đây ngồi chơi em, lại
đây, có ghế đây nè.
Thằng Bĩ bợ ngợ không chịu
ngồi song bà Hội đồng ép quá nên cực chẳng đã phải ngồi một bên thằng Ðược mà
nghe nói chuyện. Thằng Ðược mới thuật tiếp lúc nó về chợ Mỹ Lợi mà thăm Ba Thời
lại có mua một con heo dắt về mà cho thì bà Hội đồng ngồi cười ngất.
Thằng Ðược lại gói, lấy
cái khăn bông hường của nó mua tại chợ Cần Giuộc mà cho con Liên. Con Liên cười
rồi lấy đội thử. Bà Hội đồng mới hỏi:
- Con về nhà có gặp người
cha nuôi con hay không?
- Thưa, không.
- Ði đầu mà không gặp?
- Thưa, má tôi nói đi làm
ruộng đâu dưới nầy, lại có đưa một bức thơ của cha tôi gởi về cho tôi coi, theo
trong thơ đó thì cha tôi làm ruộng miệt trong kinh Xà No.
- Cha nuôi con tên gì?
- Thưa, tên Hữu...
- Con có biết làm ruộng của
ai hay không?
- Thưa không.
Bà Hội đồng từ hồi mới vô
phòng thì ngồi ngó thằng Ðược kỹ lưỡng lắm, mà chừng nghe nói chuyện tới đó thì
bà lại suy nghĩ một hồi rồi mới biểu nói tiếp. Thằng Ðược mới thuật tới chuyện
nó đi tìm cha mẹ. Bà Hội đồng nghe nói tên thầy Lợi thì chưng hửng, song bà
không nói chi hết cứ để cho thằng Ðược nói cho bà nghe. Bà nghe nói thầy Lợi dắt
qua Khánh Hội mà giao cho một người nghèo nàn mà lại bất lương thì bà buồn hết
sức, mà mặt bà lại có sắc giận nữa.
Chừng thằng Ðược nói dứt rồi,
bà mới kêu thằng Hai là đứa ở trong nhà đi theo xách đồ cho bà, dạy xuống xe
xách quả trầu và ôm gói đồ lên cho bà. Bà mở gói ra lấy một cái áo lụa trắng, một
cái quần lụa trắng với một đôi giày hàm ếch mà đưa cho thằng Ðược, rồi biểu thằng
Hai dắt nó đi tắm rửa cho sạch sẽ đặng thay đồ mới mà mặc. Thằng Ðược ra khỏi
phòng rồi bà nói với thằng Bĩ rằng: "Cô không dè nó đi với cháu, vậy để cô
về cô biểu bầy trẻ may thêm áo quần rồi cô sẽ đem ra cho cháu".
Thằng Ðược tắm gội, thay đồ
mới và mang giày trở lên phòng, mặt mày tươi rói bộ đắc ý lắm. Bà Hội đồng ngồi
ngắm nó, rồi kéo tay nó lại gần mà hun hai bên gò má và chỉ thằng con bà mà nói
rằng: "Thằng Phong là em con đây, nó nhắc nhở con hoài. Nay gặp con thiệt
cô mừng quá". Bà Hội đồng biểu thằng Hai đi kêu thợ may lại, bà đặt cho thằng
Ðược với thằng Bĩ mỗi đứa một cái áo u-hoe[1], một cái áo sơ-mi, một cái quần
tây và một đôi giày đen. Con Liên theo rờ rẫm thằng Ðược hoài rồi mới rủ nhau đờn
ca chơi cho vui. Thằng Ðược đờn kìm, thằng Bĩ đờn cò, con Liên thì ca, còn thằng
Phong thì cà rà dựa bên đó, cả nhà hàng từ chủ đến bồi thảy đều chạy lên đứng
ngoài cửa mà nghe. Bà Hội đồng nằm trên giường cứ ngó thằng Ðược mà cười hoài.
Ðến xế bà sai thằng Hai ra
chợ nấu hai dĩa mì cua và mua cho ba cắc bánh bao đem lên phòng dọn cho sắp nhỏ
ăn chơi. Ăn uống xong rồi bà sửa soạn đi về, bà mới nói với thằng Ðược rằng:
"Nầy con, thôi con với thằng Bĩ ở đây để cho cô về, cô để thằng Hai nó ở lại
đây với con, đặng con có cần dùng việc chi con sai nó cho dễ. Con muốn ăn uống
hay là muốn mua vật chi thì con biểu nó nói với ông chủ nhà hàng ổng mua cho.
Ban ngày nó coi tắm rửa săn sóc con, còn ban đêm nó trải chiếu dựa cửa đây nó
ngủ đặng con cần dùng vật chi con kêu nó cho dễ. Cô muốn đem con về nhà cô mà ở
cho dễ, nhưng mà lúc nầy chưa tiện. Vậy có lẽ chừng năm ba bữa nữa cô rước con
về mới được. Tuy vậy mà vài bữa rồi cô sẽ ra thăm con. Cô xin con một điều nầy
là đừng có đi chơi đâu hết, cứ ở đây mà thôi. Chừng nào cô sai người ra rước
con thì con sẽ đi". Bà Hội đồng nói rồi bèn dắt con Liên với thằng Phong
xuống lầu, đứng nói chuyện với ông chủ nhà hàng một lát rồi lên xe đi về. Thằng
Ðược ngã lăn trên giường nằm ca hát om sòm, bộ vui vẻ lăm, thằng Bĩ thấy vậy
bèn nói rằng:
- Sao mầy vui dữ vậy mậy?
- Tao gặp được con Liên
tao mừng quá. Mầy thấy chưa? Tao đã nói bà Hội đồng tử tế lắm mà.
- Bả tử tế thiệt, mà bả nhốt
mình ở đây tù túng khó chịu quá.
- Ối! Ði đâu làm chi nữa
mây! Mình ăn ngủ sung sướng như vầy dầu ở đây tới già tao cũng chịu.
- Tánh mầy sao ưa sung sướng
quá. Nếu sung sướng hoài như vầy thì có biết việc đời ra thế nào đâu.
- Phải, mầy nói lời đó tao
phục lắm. Mà bà Hội đồng bả dặn như vậy, thôi mình cũng ráng chờ coi bả liệu với
mình làm sao đây rồi mình sẽ đi. Nè mầy, mà coi con Liên bây giờ nó sung sướng
quá, tao sợ nó không chịu đi với mình đâu.
Bà Hội đồng đã nuôi con
Liên mà lại còn để lòng thương thằng Ðược nữa, đó là một ngươi giàu có ở tại
Bình Thủy. Chồng bà thuở trước tên là Phan Thanh Nhàn. Vợ chồng hồi mới kết
nghĩa châu trần thì cha mẹ hai bên vừa đủ ăn đủ làm mà thôi, chớ không dư dả. Vợ
chồng ra riêng rồi thì hiệp sức nhau mà sáng nghiệp, chồng lo khẩn đất làm ruộng,
vợ lo cần kiệm trong nhà, thức khuya dậy sớm, dãi nắng dầm mưa, lo tảo lo tần;
người đã có công mà đời lại thêm giúp vận, nên trong mười năm thì Phan Thanh
Nhàn đã trở nên một nhà giàu lớn, ruộng kể đến tám trăm mẫu, lúa ruộng mỗi năm
góp hơn hai chục ngàn thùng.
Vợ chồng ở với nhau không
con, bà thấy chồng hễ nói đến chuyện tương lai thì thường có sắc buồn, nên bà
tính đi cưới cho chồng một người vợ bé, hoặc may kiếm được chút con để nối nghiệp
về sau. Dịp cũng may lúc ấy trong làng có cô Tô Thị Sảnh là con nhà nghèo mà
dung nhan tuấn tú chồng đi nói rồi mà chưa kịp cưới kế chồng nhuốm bịnh mà phải
ly trần.
Cô ta tuy chưa có chồng mà
cũng đã mang tiếng chồng chết, nên không ai thèm đi nói nữa. Bà Phan Thanh Nhàn
thấy cô dung mạo mỹ miều ăn nói lại lanh lợi, nhắm nhía thiệt phải người giúp đợ
việc nhà, nên bàn tính với chồng rồi cậy mai đến nói cô đặng cưới về làm bé.
Phan Thanh Nhàn cưới Tô Thị
Sảnh về thì vợ lớn vợ nhỏ ở với nhau trên thuận dưới hòa, chẳng có một chút chi
xích mích. Cách vài năm Tô Thị Sảnh có thai sanh một đứa con trai, vợ chồng
Thanh Nhàn mừng rỡ hết sức, đặt tên nó là Phan Thanh Hà.
Vợ Thanh Nhàn tưng tiu săn
sóc đứa nhỏ như con ruột mà lại cưng Thị Sảnh không cho làm việc chi hết. Thị Sảnh
thấy vậy mới tự kiêu, mà lại ỷ thế có con nên đỏng đảnh làm nhiều cách, nói nhiều
lời, làm cho vợ lớn dằn không được phải sanh rầy rà trong nhà. Thanh Nhàn muốn
cho gia đạo bình an, mới cất thêm một cái nhà ngói nhỏ ở gần ngoài đầu cầu đúc,
rồi để vợ bé ở riêng với con cho khỏi điều xích mích. Vợ nhỏ vừa ra riêng thì
ông đắc cử địa hạt hồi đứng mà vợ lớn có thai nữa. Thanh Nhàn chẳng xiết nỗi mừng,
mà nhứt là bà vợ lấy làm đắc ý lắm, mà bà càng đắc ý chừng nào lại càng lo lắng
chừng nấy nên rước thầy hay mà uống thuốc dưỡng thai luôn luôn. Ðến kỳ khai hoa
bà cũng sanh được một đứa con trai, đặt tên là Phan Thanh Nhã. Từ ngày Thanh
Nhàn cho vợ bé ở riêng rồi thì đã bớt yêu, mà chừng vợ lớn sanh một đứa con thì
tình Thanh Nhàn đối với vợ bé lại càng lợt lạt hơn nữa. Tuy vợ lớn cũng giữ một
mực nghiêm chánh mà ở với vợ bé, chớ không phải mình có con trai rồi khinh bạc,
song Thị Sảnh ý không được vui, nên trước mặt không dám nói tiếng chi vô lễ, chớ
sau lưng thường có lời trách móc hoài. Vợ lớn cũng rõ tánh vợ nhỏ chẳng phục
mình, nhưng mà vì sợ cực lòng chồng nên khi nào có nghe ai học điều chi thì
cũng cứ khuất lấp bỏ qua không hề để ý đến.
Bà thương con lắm, nên áo
quần mền cũ cũng không chịu mướn ai may hết. Bà lại đặt cho thợ bạc làm một sợi
dây chuyền vàng nhỏ nhỏ để cho con đeo chơi. Thằng nhỏ được ba tháng mà không sổ
sữa, bà bèn rước thầy thuốc xem mạch hốt thuốc uống đặng mát sữa cho con bú. Thầy
thuốc nói bà sữa nóng không nên cho con bú và khuyên bà phải kiếm mướn một
ngươi vú. Bà cũng nghe lời lật đật mướn vú cho con bú.
Khi thằng nhỏ được gần sáu
tháng, Thanh Nhàn rủi lâm bịnh ho, nên vợ chồng dắt nhau lên Sài Gòn chơi cho
thong thả và luôn dịp kiếm thầy thuốc tây hay đặng vợ chồng uống thuốc tiếp dưỡng
thân thể. Thanh Nhàn có một người em tên Phan Ðức Lợi, hồi nhỏ có đi học chữ
Tây lên tới lớp nhứt trường tỉnh Cần Thơ rồi thì qua Mỹ Tho học được hơn một
năm kế bị đuổi. Người em trở về nhà ít tháng rồi đi theo chúng bạn lên Sài Gòn
xin giúp việc cho trạng sư. Vợ chồng Thanh Nhàn hễ đi Sài Gòn thì ở nhà người
em, mà cách mấy tháng trước Thị Sảnh lên cũng ở tại đó.
Phan Ðức Lợi thấy vợ chồng
Thanh Nhàn lên thì mừng rỡ hết sức, nhứt là thấy đứa con nhỏ là Thanh Nhã thì bồng
ẩm hun hít coi bộ tưng tiu lắm. Ðức Lợi dọn thêm một cái giường nữa ở trong buồng
đặng cho anh với chị dâu nghỉ, còn con vú với thằng nhỏ thì giăng mùng nằm tại
bộ ván ngoài. Vợ chồng Thanh Nhàn ở chơi được một đêm một ngày. Qua đêm thứ nhì
trong nhà thức nói chuyện chơi tới mười một giờ rồi tắt đèn đi ngủ. Ðức Lợi bổn
thân coi đóng cửa. Ðến hai giờ khuya vợ chồng Hội đồng đương ngủ thình lình
nghe con vú kêu và hỏi: "Cô ơi? Cô! Cô có bồng em vô trong hay không vậy
cô?". Bà Hội đồng liền trả lời rằng: "Ai bồng vô trong nầy làm gì. Mầy
ngủ với em mà mầy hỏi cái gì kỳ vậy?". Con vú trả lời rằng: "Em đâu mất
không có đây cô à".
Vợ chồng Thanh Nhàn nghe
nói tốc mùng chạy ra quẹt hộp quẹt đốt đèn lên coi thì thấy cửa trước mở hé,
còn đứa nhỏ thì không có ở trong mùng, cái mền của nó cũng đâu mất, mà cái mũ với
đôi vớ hồi chiều đi chơi về cổi để trên bàn giữa cũng không còn. Bà Hội đồng chạy
kiếm phát thông phát thổ, còn ông Hội đồng chạy vô buồng kêu em thức dậy bơ hơ
bài hãi mà hỏi coi con mình ai bồng đi đâu. Vợ chồng Phan Ðức Lợi thức dậy giụi
mắt thủng thẳng đi ra, nghe nói mất cháu thì chưng hửng. Mấy người ở gần nghe lụi
hụi họ cũng chạy qua hỏi thăm, ai nghe nói ăn trộm vô nhà không lấy tài vật chi
hết, chỉ bồng có một đứa nhỏ mà thôi, thì cũng đều lấy làm lạ lắm. Phan Ðức Lợi
chắc lưỡi kêu trời, vội vã đi súc miệng, rửa mặt rồi bận áo đi xuống bót mà cớ.
Cách chừng một giờ đồng hồ Ðức Lợi trở về thấy anh đương ngồi khoanh tay, mặt
mày buồn xo, còn chị dâu với con vú khóc nức nở. Ðức Lợi nói rằng: "Anh chị
đừng lo, tôi thưa với ông Cò thì ổng giận lắm nên tức tốc sai lính đi chận mấy
nẻo đường hễ gặp ai bồng con nít đi thì phải bắt hết thảy. Tôi có nói rõ cho
ông Cò biết hình trạng của cháu, bởi vậy tôi chắc là kiếm được, không mất đâu
mà sợ".
Bà Hội đồng vừa khóc và
nói rằng: "Chú nó ráng kiếm giùm con tôi, kẻo tội nghiệp tôi quá... Ai mà
ăn ở bất nhơn thất đức lắm như vậy không biết... Cha chả! Ai có khuấy chơi xin
đem trả con tôi lại cho tôi, muốn xin một hai ngàn gì tôi cũng cho hết". Ðức
Lợi nói rằng: "Chị đừng có buồn, bề nào tôi kiếm cũng được, không sao đâu
mà sợ".
Qua ngày mai vợ chồng ông
Hội đồng dắt nhau đi thất thơ cùng hết mấy nẻo đường mà cũng không biết con ở
đâu mà kiếm. Vợ chồng Ðức Lợi cứ theo an ủi và hứa sớm muộn gì kiếm cũng được
cho, mà vợ chồng Hội đồng ở đó trọn mười bữa mà kiếm con cũng không được. Vợ chồng
dắt nhau trở về Bình Thủy, bà Hội đồng nhớ con ăn ngủ không được ngày đêm cứ ngồi
khoanh tay mà khóc hoài. Ông Hộ đồng an ủi hết sức, tuy bề ngoài bà gượng làm
khuây song trong lòng bà chẳng giây phút nào mà quên con được. Thị Sảnh thấy bà
lớn mất con rồi, bộ lại càng kiêu căng hơn xưa, thường hay nói với người lối
xóm rằng ngày nào ông Hội đồng nhắm mắt rồi thì sự nghiệp của ông sẽ về tay
mình hết. Trong vài tháng thì có Phan Ðức Lợi về thăm một lần, mà lần nào về
cũng cà rà bên nhà Thị Sảnh cả buổi.
Có lẽ Trời Phật thương
lòng thành thật của vợ chồng ông Hội đồng, không muốn để sự nghiệp của vợ chồng
cực khổ gầy dựng ra đó cho người bất lương giành mà hưởng nên cách vài năm sau
bà Hội đồng có thai rồi lại sanh đặng một đứa con trai nữa đặt tên là Phan
Thanh Phong. Vợ chồng cưng như trứng mỏng, bà bổn thân nuôi dưỡng, không chịu
mướn ai bồng ẵm nữa.
Nhưng mà vì bởi ông Hội đồng
có bịnh ho nên Thanh Phong không được cứng cỏi như đứa trước, Thanh Phong òi ọp
hoài, làm cho mẹ cực nhọc với con hết sức. Thanh Phong vừa được ba tuổi thì bịnh
ông Hội đồng càng ngày càng thêm nặng. Ông lén xuống Cần Thơ đến Nô-te mà lập tờ
chúc ngôn, nhứt định rằng sự nghiệp của ông thì bà được quyền hưởng mãn đời, chừng
nào bà quá vãn rồi con mới được chia với nhau mà hưởng. Trong tờ lại có cước rằng
hễ ông qua đời rồi thì mỗi năm bà cấp dưỡng mẹ con Thị Sảnh một ngàn đồng bạc với
một ngàn giạ lúa mà thôi.
Ông đem tờ chúc ngôn về
đưa cho bà dặn bà phải cất cho kỹ, đặng sau vợ nhỏ có tranh tụng thì đem ra mà
chiếu đối. Ðến chừng ông gần tắt hơi ông biểu đuổi bạn bè ra ngoài rồi ông kêu
bà mà trối rằng: "Má nó ôi, tôi liệu trong mình tôi không còn sống được nữa,
vậy nên tôi bỏ hết mọi việc nhà lại cho má nó nghe. Má nó cũng biết tánh tôi
không phải là tham sắc, nhưng vì tôi muốn kiếm chút con để nối nghiệp về sau,
nên tôi nghe lời má nó tôi mới đi cưới vợ bé. Khi tôi cưới má thằng Hà về ở được
vài tháng thì tôi đã rõ nó là một người đàn bà tánh đố ky, mà lòng tham lam nữa,
bởi vậy tôi mới tính cất nhà riêng cho nó cho yên. Nào dè nó được sung sướng mà
lại sanh tâm độc ác. Má nó có biết thằng con lớn của mình là thằng Nhã ngủ đêm
mà chúng bồng đi mất đó là kế của ai bày đó hay không? Tuy tôi không đủ bằng cớ,
song tôi dám chắc má thằng Hà với thằng em tôi là thằng Lợi chúng nó toa rập với
nhau đặng hại mình đó, chớ không lẽ ăn trộm nào mà bắt con nít làm gì. Má nó mà
đẻ thêm được thằng Phong nữa cũng là may, ngặt vì nó yếu quá nên đau ốm hoài
tôi lấy làm sợ hết sức. Vậy tôi có nhắm mắt theo ông theo bà rồi thì má nó ráng
săn sóc nuôi dưỡng thằng Phong cho lắm nghe, lại cũng phải chịu khó cậy người
dò dẫm mà kiếm thằng Nhã đem về mà nuôi, tôi chắc chúng nó giấu đâu đó chớ
không lẽ chúng nó giết".
Ông Hội đồng Nhàn chết rồi
thì Phan Ðức Lợi về cầm cân cho Thị Sảnh kiện đặng chia hai gia tài. Bà Hội đồng
nhờ có di chúc của chồng nên Thị Sảnh kiện không được, phải chịu phép mỗi năm
lãnh một ngàn đồng bạc với một ngàn giạ lúa mà nuôi con. Phan Ðức Lợi đã phản với
chị dâu mà không biết hổ ngươi nên mỗi năm qua lối tháng hai tháng ba liệu góp
lúa vừa xong thì lót tót về cà rà xin bạc. Bà Hội đồng tuy nhớ lời trối của chồng
thì giận, song bà là một người lương thiện thấy em chồng không lẽ làm lơ nên
năm nào hễ Ðức Lợi về xin thì bà cũng cho năm bảy trăm. Có lúc bà Hội đồng muốn
mua lòng Ðức Lợi nên bà năn nỉ xin kiếm giùm thằng Nhã cho bà, bà hứa nếu kiếm
được thì bà sẽ cho năm ngàn đồng bạc.
Ðức Lợi nghe hứa số tiền
nhiều thì ham nên tính kiếm thằng Nhã đặng lãnh thưởng. Mà trước khi về Sài Gòn
lại qua ghé nhà Thị Sảnh nói chuyện ấy cho Thị Sảnh nghe. Thị Sảnh cản trở và
biểu phải làm cho biệt tích thằng Nhã mới được, bởi vì thằng Phong bẩm khí bạc
nhược không thể sống lâu được, hễ thằng Phong chết thì gia tài tự nghiệp về trọn
nơi tay chị ta, chừng đó chị ta sẽ cho Ðức Lợi một muôn đồng bạc. Chị ta lại sợ
Ðức Lợi ham năm ngàn đồng của bà Hội đồng mà theo bả nên nói rằng: "Chú nó
nghe lời chỉ tôi sợ không xong đâu. Chỉ nói gạt chú nó dắt thằng nhỏ về đây chỉ
giở trái làm mặt, chỉ đến tòa chỉ thưa nói chú nó giấu con chỉ thì chú nó đã
không có một đồng xu mà lại còn bị ở tù nứa".
Ðức Lợi nghe mấy lời ngồi
suy nghĩ một hồi tính làm cho thằng Nhã biệt tích, song buộc Thị Sảnh phải làm
cho anh ta một cái tờ hứa rằng ngày nào ăn trọn gia tài được rồi thì phải chia
cho anh ta một muôn đồng bạc.
Trời Phật không lẽ giúp đứa
gian, nên khiến cho bà Hội đồng chở thằng Phong lên Sài Gòn uống thuốc không đầy
một tháng mà nó đã hết bịnh rồi về nhà bà tiếp dưỡng nó thêm nữa, nên lần lần
nó mập mạp mạnh khỏe, con nít trong xóm không đứa nào bì kịp.
Năm ấy ăn Tết vừa rồi, có
một tên tá điền bơi xuồng ra cho bà hay rằng Hương bộ Kiên là người bào tá ruộng
của bà trong kinh Xà No mới góp lúa vừa được bốn năm ngàn giạ chân bán hết phân
nữa rồi lấy bạc dắt vợ con trốn mất. Bà Hội đồng nghe nói lật đật dọn ghe hầu
và dắt thằng Phong với con Liên đi vô ruộng.
Vô tới Xà No bà xét lại
thì thiệt quả Hương bộ Kiên đã giựt của bà hết hai ngàn rưỡi giạ lúa. Vì lúa ruộng
góp được phân nửa nên bà phải ở lại đó coi góp cho xong, đợi chừng nào đổ vô vựa
rồi mới về được. Lúc bà ở góp lúa bà thấy có một người tá điền tên Hữu, nhậm lẹ
giỏi giắn mà lại ăn nói bặt thiệp. Bữa nọ tên Hữu chèo ghe cho bà đi góp lúa,
bà ngồi buồn mới hỏi tên Hữu gốc gác ở đâu, có vợ con hay không. Nó thưa với bà
rằng nó gốc ở Gò Công khi mới lớn lên nó cưới vợ về sanh được một đứa con, song
nuôi không được nên nó buồn chí bỏ vợ ở nhà mà đi chèo ghe mướn. Cách ít tháng
nó gặp một con tình nhơn mới dắt nhau đi xuống đây mà làm ruộng.
Nó thì lo làm ăn hết sức,
ngặt con tình nhơn của nó thì cứ bài bạc hoài, bởi vậy làm tám chín năm mà cũng
không dư dả đồng nào. Ðã vậy mà sau con tình nhơn đó lại còn sanh tâm lấy trai,
nó thấy vậy buồn chí mới bỏ mà về xứ, tính ở lại với vợ cũ. Chẳng dè về nhà thì
vợ nhà đã có một đứa con. Tuy vợ nó nói đứa nhỏ ấy là con nó xí được nó nuôi,
có trình giấy của ông Cò trên Chợ Lớn và có đưa áo quần của đứa nhỏ mặc hồi xí
được đó cho nó coi, song nó không tin, nên hễ thấy mặt thằng nhỏ thì lửa lòng hừng
hực, bởi vì nó bị con tình nhơn sanh tâm nó đã buồn rồi mà về nhà thấy việc như
vậy nữa thì nó không thể vui được. Thiệt nó thấy vợ nó tánh nết hiền hòa nó thương,
nó muốn ở với vợ nó, nên nó mới bán thằng nhỏ cho một ông thầy đờn đặng ổng dắt
nó đi cho khuất mắt.
Bà Hội đồng nghe nói tới
đó sực nhớ tới thằng Ðược liền hỏi:
- Thằng nhỏ đó tên gì?
- Thưa, tên Ðược.
- Ai đặt tên cho nó đó vậy?
- Thưa, vợ tôi nó nói nó
xí được nó không biết kêu tên gì nên nó đặt là thằng Ðược.
- Năm nay nó mấy tuổi?
- Thưa, chừng mười bốn, mười
lăm tuổi.
- Vợ em có nói hồi xí được
đó thằng nhỏ được bao lớn hay không?
- Thưa, nó nói chừng năm
sáu tháng.
- Hứ! Xí được ở đâu vậy?
- Thưa, trên Bình Tây.
- Cha chả! Hồi xí được đó
thằng nhỏ mặc áo quần ra làm sao?
- Thưa, hồi tôi về đó vợ
tôi có đưa áo quần cho tôi coi thì tôi thấy có một cái mền tua trắng, một cái
mũ, một cái áo đầm, một đôi vớ lại có một sợi dây chuyền vàng nữa.
- Húy! Nếu vậy thì phải rồi
còn gì.
- Thưa, phải là làm sao?
Bà Hội đồng ngồi lặng
thinh một hồi rồi lại hỏi :
- Bây giờ em biết thằng nhỏ
đó ở đâu hay không?
- Thưa, không. Tôi bán nó
rồi tôi ở với vợ tôi không đầy một năm coi cũng không được vui nên tôi bỏ đi xuống
đây mà làm ruộng. Bốn năm năm nay tôi không về lần nào nên không biết nó có trở
về nhà hay không.
- Năm ngoái qua chở thằng
con qua lên Sài Gòn uống thuốc, đi tới Nước Xoáy qua có gặp một đứa nhỏ chừng
mười ba, mười bốn tuổi đờn ca giỏi quá. Qua có hỏi nó, nó nói tên Ðược, gốc ở
chợ Mỹ Lợi thuộc hạt Gò Công, chắc là nó đó chớ gì.
- Thưa, có lẽ khi phải, bởi
vì tôi bán nó cho thầy đờn, chắc là họ dạy nó học đờn.
- Cha chả? Bây giờ biết nó
đi đâu mà kiếm.
Bà Hội đồng tính để góp
lúa xong rồi sẽ biểu tên Hữu về dắt vợ lên cho bà nhìn thử coi có phải là đồ của
bà may cho con hồi trước hay không. Bà lại tính để rồi bà cũng sai người tâm
phúc lên Mỹ Tho tìm thầy Ðàng với thằng Ðược mà dắt về đặng bà biểu tên Hữu
nhìn coi có phải là con nuôi của vợ nó hay không?
Bà góp lúa vừa xong, mới về
tới nhà thì thấy có Phan Ðức Lợi xuống mà xin tiền.
Bà mới nghe tên Hữu thuật
chuyện thằng nhỏ trong bụng bà đương nghi nó là con của bà, về nhà bà thấy mặt
Phan Ðức Lợi bà lại nhớ tới lời của chồng trối thì bà giận, bởi vậy nên bà lơ lảng
chớ không niềm nỡ như mấy năm trước nữa.
Phan Ðức Lợi thấy bà không
được vui nên không dám hở môi, song cũng chà lết ở đó chớ không chịu về. Tới bữa
sau Phan Ðức Lợi thấy bà đương ngồi ăn trầu thì cà rà lại gần mà xin bạc. Bà mới
hỏi thử coi có kiếm giùm con của bà hay không. Hai người đương nói chuyện với
nhau, thình lình con Liên ở ngoài sân chạy vô nói nhỏ cho bà hay rằng có thằng
Ðược xuống kiếm, nó còn đứng chờ ngoài cửa ngõ.
Bà Hội đồng đã tính sai
người đi kiếm thằng Ðược, nay nghe nói có nó tới thì bà chẳng xiết nỗi mừng. Bà
vừa muốn biểu trẻ ra mở cửa cho nó vô, bà liền nhớ có Phan Ðức Lợi ngồi đó, nếu
cho nó vô e có việc bất tiện, nên bà bước trái vô buồng biểu nhỏ con Liên lén
ra mà biểu thằng Ðược đi lần lại đầu cầu đúc mà ngồi, rồi bà sai Tư Thanh, là
người bà con ở coi sóc giùm trong nhà cho bà, thắng xe mà đưa nó xuống nhà hàng
Cần Thơ để nó đó rồi bà sẽ liệu định. Trong đêm ấy bà sai bạn vô Xà No kêu tên
Hữu ra, rồi bà đưa bạc biểu phải lập tức đi về Gò Công mà rước vợ và dặn phải
đem hết áo, mền, mũ, vớ của đứa nhỏ xí được hồi trước đem lên cho bà coi. Tên Hữu
đã có nghe người ta nói hồi trước bà có mất hết một đứa con trai, song bà ở Cần
Thơ còn vợ mình xí được đứa nhỏ trên Chợ Lớn, hai xứ cách nhau xa lắm mà cũng
không biết bà mất con hồi năm nào, nên nó chẳng hề có bụng nghi thằng Ðược là
con của bà. Nay bà sai nó đi mà lại dặn dò như vây thì trong lòng nó mới sanh
nghi, bởi vậy nên nó mới đi riết về Gò Công trong bụng nghĩ thầm rằng, nếu thằng
Ðược là con của bà thì là cái phước lớn của vợ nó, bởi vì vợ nó có công nuôi dưỡng,
mà bà là người giàu lớn, không lẽ bà không đền ơn cho xứng đáng. Nó nghĩ như vậy
thì nó mừng, mà rồi nó nhớ tơi việc nó khổ khắc thằng Ðược thì nó lại lo, nếu
thằng Ðược mà quả là con bà Hội đồng thì nó còn mặt mũi nào mà dám ngó.
Chương 11
Tên Hữu đi rồi thì bữa nào
bà Hội đồng cũng xuống Cần Thơ mà thăm thằng Ðược và chiều tối ra về thì bà
theo căn dặn chủ nhà hàng phải coi sóc nó cho kỹ lưỡng nhứt là đừng cho nó đi
chơi. Thằng Ðược tuy không rõ bà Hội đồng, song nó thấy thân nó được sung sướng
thì nó lấy làm vui lắm, bởi vậy đêm nào nó cũng theo chọc thằng Bĩ, cứ nói rằng:
- Mầy coi tao nói trúng
hay không? Tao nói một ngày kia tao sung sướng lắm, có lẽ ngày sung sướng đó đã
tới rồi đa mầy à.
Hễ thằng Ðược vui thì thằng
Bĩ lại buồn; thằng Ðược thấy vậy nổi giận theo rầy hoài:
- Tao với mầy kết làm anh
em với nhau, hễ tao vui thì mầy phải vui với tao chớ sao mầy lại làm mặt quỉ thần
hoài vậy?
- Mấy vui chừng nào tao
càng buồn chừng nấy.
- Sao vậy?
- Nếu mầy giàu có thì tao
có được làm anh em với mấy nữa đâu.
- Mầy nói bậy hoài, Tao
giàu thì cũng như mầy giàu, chớ sao lại không làm anh em với nhau nữa.
- Hễ mầy giàu thì mầy chơi
với con nhà giàu, đồ trôi sông lạc chợ, không mẹ không cha như tao vầy mầy
đương thèm ngó tới đa.
- Bĩ mầy đừng nói xấu cho
tao như vậy. Ví dầu ngày sau mà tao có được giàu sang đi nưa, có lẽ nào tao
quên sự cực khổ của tao mười mấy năm nay cho được mậy. Tao thường có nói với mầy
rằng thuở nay trong lòng tao thương có mấy người mà thôi, thứ nhứt là má nuôi
tao, thứ nhì là thầy tao, thứ ba là con Liên, còn thứ tư là mầy. Thiệt tao cũng
thương cha thương mẹ tao nữa, ngặt bây giờ tao chưa biết cha mẹ tao là ai. Nếu
tao giàu thì tao lập thế đi tìm cha mẹ tao, mà trước hết tao rước mấy ngươi tao
thương đó về nhà tao nuôi hết thảy, chớ phải tao như họ, giàu rồi quên bạn
nghèo, sang rồi quên hèn đâu mà mầy nói vậy.
Thằng Ðược nói tới đó rồi
day qua ôm thằng Bĩ mà ngủ. Cách bốn bữa sau, lối mười một giờ trưa bà Hội đồng
cũng xuống nhà hàng mà thăm như mấy bữa trước, song ngày ấy bà đi có một mình
chớ không dắt con Liên với thằng Phong theo. Bà đem cho thằng Ðược thêm một cái
quần và một cái áo lụa trắng mới may nữa. Lối hai giờ chiều bà ra về bà dặn thằng
Ðược đừng có đi chơi, chừng nào có Tư Thanh, là người đàn bà đưa nó xuống nhà
hàng hôm trước đó, đem xe rước nó thì nó sẽ đi theo mà lên nhà bà.
Tối bữa đó tên Hữu dắt vợ
là Ba Thời xuống tới. May lúc ấy Phan Ðức Lợi mắc đi qua nhà Thị Sảnh mà chơi.
Ba Thời bước vô thấy mặt con Liên vùng hỏi rằng: "Ủa con em đây sao nó giống
con đi với ông thầy mua thằng Ðược hồi trước quá vậy mình?". Tên Hữu đáp rằng:
"Ðừng nói bậy, cô em đây là con cháu của bà, nói bậy không nên đâu".
Con Liên ngó tên Hữu và Ba Thời cười chúm chím rồi bỏ chạy vô buồng. Bà HộiI đồng
bước ra thấy vợ chồng tên Hữu liền hỏi rằng: "Vợ của em đây phải
hôn." Hai vợ chồng tên Hữu xá bà rồi thưa phải. Bà mới hỏi rằng: "Hai
em có đem đồ qua dặn đó xuống hay không?". Tên Hữu thưa có rồi dở thúng lấy
một gói đồ mà đưa cho bà.
Bà Hội đồng ngồi trên ván
mở gói đồ ra, tay run lập cập miệng vái thầm rằng: "Vái trời phật cho phải
đồ của con tôi thì tôi...". Bà vừa nói tới đó thì cái gói đã mở ra, bà thấy
áo mũ vớ mền phải là đồ bà sắm cho thằng Nhã ngày trước nên bà mừng quýnh, bà
nói lớn rằng: "Phải rồi, phải rồi, đồ của con tôi đây mà, đây cái áo đầm nầy
tôi may, đường kim mũi chỉ làm sao tôi quên được, đôi vớ nầy nữa đây, còn cái mền
nầy của chổng mua dưới chợ Cần Thơ nữa đây; con ôi, con, mấy năm nay con xiêu lạc
làm cho rnẹ phiền não đêm ngày... Vậy mà tôi gặp con tôi, tôi không biết nó nữa
chớ!".
Bà nói mà nước mắt chảy
chàm ngoàm. Con Liên, thằng Phong và tôi tớ trong nhà không hiểu việc chi nên
chạy ra đứng chung quanh mà ngó. Bà day lại ngó thấy thì bà cười; bà lấy vạt áo
lau nước mắt rồi bà ôm hết gói đồ đi vô buồng, lại biểu một mình Ba Thời đi
theo bà, còn tôi tớ thì xuống nhà sau coi dọn cơm cho vợ chồng tên Hữu ăn.
Vô trong buồng, Ba Thời lại
móc túi lấy sợi dây chuyền mà đưa cho bà coi nữa. Bà. Hội đồng cầm coi cứ nói:
"Phải rồi, phải của con rồi". Bà mới biểu Ba Thời ngồi mà thuật hết đầu
đuôi cho bà nghe coi xí được thằng Ðược hôi nào, tại đâu, nuôi dưỡng làm sao.
Ba Thời nói tới đâu bà khóc tới đó, chừng Ba Thời nói dứt rồi bà mới nói rằng:
"Thằng Ðược đó là con của qua. Ơn em nuôi dưỡng nó qua không dám quên đâu.
Vậy thôi em ở đây, để mai qua rước nó vế, sẽ hay". Ba Thời nghe nói rước
thằng Ðược thì chưng hửng, song bà nói vậy hay vậy chớ không dám hỏi.
Khuya thức dậy bà dạy bạn
làm một con heo, tảng sáng bà sai đi mời làng tổng và thân tộc tề tựu đủ mặt hết,
bà lại cho mời Thị Sảnh với Phan Ðức Lợi nữa. Thị Sảnh không hiểu có việc chi
nên dắt con là thằng Hà lơn tợn đi qua. Bước vô nhà thấy làng tổng bà con đông
dầy dầy, trong bụng lại tưởng bà Hội đồng muốn chia gia tài nên ngó Phan Ðức Lợi
mà chúm chím cười. Bà Hội đồng biểu Tư Thanh thắng xe xuống Cần Thơ mà rước hai
anh em thằng Ðược lên; lối chín giờ bà nghe biếng lục lạc khua bà biết xe về tới
nên bước ra cửa mà ngó.
Thằng Ðược mặc quần áo mới,
xuống xe đi vô trong nhà, còn thằng Bĩ với Tư Thanh còn lụi hụi xách đồ đi sau.
Những người ở nhà thấy thằng Ðược đi vô không biết là con của ai, nên người bước
ra mà dòm, kẻ ngồi trong mà ngó. Con Liên với thằng Phong vừa thấy thì lật đật
chạy ra nắm tay thằng Ðược rồi cập một đứa một bên mà dắt vô, thằng Ðược vừa bước
vô cửa thì bà Hội đồng nắm tay nó dắt nó đi thẳng lại trước bộ ván giữa, chỗ
Cai tổng ngồi, rồi ôm nó mà hun trơ hun trất, vừa khóc và nói rằng: "Mẹ
đây con biết hay không con?". TộI nghiệp con tôi quá, mới sanh ra vừa được
năm tháng rưỡi rồi lìa cha, lìa mẹ từ đó cho tới bây giờ, thân cực khổ không biết
bao nhiêu. Quân ác nghiệt nó làm cho mẹ con tôi lìa nhau, trời nào là để
nó".
Thằng Ðược chưng hửng mà lại
mừng quýnh nên cũng ôm bà Hội đồng mà khóc, chớ không nói chi được hết. Cả nhà
ai thấy vậy cũng lấy làm kỳ, mà nhứt là Thị sảnh với Ðức Lợi ngó nhau mặt mày
biến sắc. Bà Hội đồng ôm con mà ngồi trên ghế rồi day qua biểu con Liên rằng:
"Con vô buồng biểu con Ba ở Gò Công đó ôm đồ của con tao ra đây và nó cũng
ra đây cho tao biểu". Ba Thời trong buồng bước ra thấy thằng Ðược thì mừng
rỡ hết sức nên lật đật đi riết lại rồi mẹ con nắm tay nhau hỏi han lộn xộn. Tên
Hữu cũng lại đứng gần đó, thằng Ðược ngó thấy liền chỉ mà hỏi: "Tía ở đây
hay sao? Má lên đây bao giờ". Nó day qua bên kia lại thấy Phan Ðức Lợi thì
chưng hửng liền hỏi: "Ủa! Có thầy đây nữa mà!". Phan Ðức Lợi day mặt
chỗ khác giả như không nghe.
Thằng Ðược hỏi: "Tía
tôi là ai đâu má?". Bà Hội đồng nói tía con mất hơn mười năm nay rồi. Rồi
đứng dậy nói lớn lên ràng: "Thưa với tổng làng và bà con trong tộc, thằng
con đầu lỏng của tôi là thằng Nhã, nó bị người ta bắt đem giấu mất mười lăm năm
nay, bây giờ tôi mới tìm nó được mà rước về đây. Xưa nay tôi vẫn biết con tôi mất
không phải là ăn trộm bắt, thiệt ra là có một vài người muốn đoạt gia tài sự sản
của vợ chồng tôi nên mới lập mưu mà cắt ruột tôi như vậy. May nhờ trời nhỏ phước
cho tôi đẻ được thằng Phong nữa nên tôi bớt buồn, mà nay tôi lại tìm được thằng
Nhã tôi rồi thì tôi cũng hết giận quân gian đó nữa. Ở đời tôi cứ giữ lòng lành,
ai có quấy thì để cho trời định tội họ".
Nói tới đó rồi lại ôm con
vừa hun vùa khóc nữa. Bà hun đã thèm rồi mới xây mặt, dở tay con mà nói rằng:
"Ðây bà con coi thử coi gương mặt nầy phải gương mặt chồng tôi hay không?
Còn bàn tay bàn chân nó giống tôi như khuôn đúc, vậy mà năm ngoái tôi gặp nó
tôi có dè ở đâu". Bà lại dở gói đồ ra lấy từ món đưa lên mà nói: "May
con Ba nó xí được nó nuôi mà nó để dành đồ nầy tôi nhìn mới được. Ðây, cái áo nầy
tay tôi may cho con tôi mặc hồi nhỏ đây; còn sợi dây chuyền nầy tôi đặt cho anh
thợ Cu ảnh làm, còn con dấu của ảnh in phía sau tấm mề-đay-dông (médaillon) rõ
ràng quá".
Bà con làng tổng ai thấy
việc như vậy cũng đều áp lại, kẻ thì mừng bà có phước lớn, người thì hỏi thăm
thằng Nhã nhỏ lớn ở đâu, duy có Thị Sảnh với Ðức Lợi ngồi buồn xo, coi bộ hổ thẹn
lắm. Bà Hội đồng dòm thấy mới đứng dậy nắm tay con dắt lại đứng ngay trước mặt
Thị Sảnh mà nói rằng: "Người nầy là má ghẻ con đó đa, con biết hôn?".
Thằng Nhã cúi đầu xá hai ba cái, rồi bà Hội đồng lại dắt lại chỗ Phan Ðức Lợi
ngồi rồi nói: "Còn người nầy là chú ruột con đó đa". Thằng Nhã hỏi:
"Thừa chú, phải chú ở trên Sài Gòn, chỗ đường Cầu Quan đó hay
không?". Phan Ðức Lợi gật đầu; bà Hội đồng liền nói rằng: "Hồi con mới
năm tháng rưỡi má với tía con lên ở chơi tại đó rồi bị họ bắt đem giấu con đó
đa, biết hôn".
Thằng Nhã mới hỏi:
"Chú biết cháu, mà sao hồi tháng giêng cháu đến cậy chú chỉ giùm cha mẹ
cháu đặng cháu đi tìm, chú lại dắt đến nhà quân ăn trộm mà bắt cháu ở đó".
Bà Hội đồng nghe hỏi lấy làm kỳ, nên bà hỏi phăng tới, thằng Nhã mới kể hết mọi
việc bên Khánh Hội lại cho bà nghe, làm cho cả nhà ai cũng biết Phan Ðức Lợi
gian trá muốn hại con bà Hội đồng mà đoạt của. Phan Ðức Lợi hổ thẹn quá chịu
không được mới nói lớn rằng: "Tại chị nhỏ bày mưu rồi xúi tôi nên tôi mới
làm như vậy chớ".
Thị Sảnh ngồi bên ván óng
tiếng cãi rân, rồi hai đàng rầy lộn với nhau, ai cũng muốn chửa mình, làm cho
thiên hạ lại thêm biết rằng hai người a ý với nhau đặng hại con bà Hội đồng rồi
chia gia tài với nhau mà ăn.
Bà Hội đồng thấy vậy tức
cười mà nói rằng: "Thôi, hai đàng chẳng nên đổ tội cho nhau làm chi. Bây
giờ bà con làng tổng mới biết, chớ vợ chồng tôi biết đã lâu rồi, nhưng vì tôi
muốn làm lành đặng để đức cho con ngày sau, nên tôi không muốn làm hại ai hết.
Vậy tôi khuyên chú nó với dì nó đừng có cãi lẫy với nhau nữa; miễn là từ rày sắp
về sau đừng có ở quấy như vậy nữa thì thôi". Bà Hội đồng nói dứt lời liền
kéo thằng Hà với thằng Phong lại đặng anh em nó gặp nhau, rồi bà lại kêu vợ chồng
Ba Thời, con Liên và thằng Bĩ ra đứng trước bà nói rằng. Vợ chồng chú Ba nó có
công nuôi dưỡng con tôi, vậy giữa mặt làng tổng đây tôi xin tỏ lời cám ơn và đề
rồi tôi sẽ giúp cho mà làm ăn đặng đền ơn dưỡng dục con tôi hồi nhỏ. Còn con
Liên với thằng Bĩ là bạn cơ hàn của con qua, vậy từ rày con qua dược sung sướng
rồi thì qua cũng làm cho lai cháu được sung sướng như nó vậy".
Cả nhà ai thấy bà Hội đồng
có lòng quảng đại không chắp kẻ làm hại mình, mà lại biết thương người có công,
thì cũng đều kính phục. Việc rồi bà liền dạy dọn cỗ mà đãi tổng làng và bà con
thân tộc ăn uống vui chơi, mấy năm trước trong nhà quạnh quẽ bao nhiêu thì ngày
nay cũng hỉ lạc bấy nhiêu. Ðến trưa thằng Nhã, thằng Bĩ với con Liên lấy đờn để
trên ván rồi xúm lại đờn ca, còn thằng Hà với thằng Phong cũng leo lên ngồi
chung với chúng nó mà nghe. Bà Hội đồng ngồi ngó mấy con thì cười hoài, mà giọt
lụy tuôn rơi không dứt. Chừng thằng Ðược ca tới bài hành vân của nó đặt đặng đi
tìm con Liên, thì con Liên mủi lòng bỏ đờn chạy vô buồng đứng mà khóc, ai nấy
thấy vậy cũng đều động lòng. Ðến xế làng tổng mới kiếu mà về. Phan Ðức Lơi cũng
xách va li trở về Sài Gòn, còn Thị Sảnh thì đã lén về hồi nào không hay biết được".
Bà Hội đồng Nhàn mất con
đã gần mười lăm năm, tưởng đáy biển vàng chìm không trông vớt được, nào dè lòng
lành trời chẳng phụ nên mẫu tử được đoàn viên. Bà chẳng xiết nỗi mừng, tự nguyện
giữ một lòng làm lành mà để ân đức cho con, nên đã không oán trách Ðức Lợi với
Thị Sảnh, mà lại biểu Thị Sảnh với thằng Hà qua ở chung một nhà với bà đặng cho
anh em nó trìu mến nhau, rồi chừng khôn lớn biết nâng đỡ dìu dắt nhau cho trọn
niềm huynh đệ.
Thằng Nhã ngày nay ăn mặc
sung sướng, lên xe xuống ngựa, chớ không phải là thằng Ðược xách đờn đi ca mà
kiếm ăn như khi trước nữa, song nó không đổi tánh, chẳng hề quên mấy người yêu
nó trong lúc nó bần hàn, bởi vậy vợ chồng Ba Thời thì cất nhà đẹp ở trong kinh
Xà No mà coi ruộng cho bà Hội đồng, con Liên thì áo lụa quần hàng chơn giày
chơn dép cũng như con ruột trong nhà, duy có một mình thằng Bĩ không chịu ở yên
nơi, cứ ôm đờn rảo khắp các tỉnh thành, thằng Nhã năn nỉ hết sức nó cũng không
chịu ở.
Chẳng những là thằng Nhã hậu
đãi những người yêu nó trong lúc nó nghèo hèn mà thôi, mà hễ nó thấy con nhà
nghèo thì nó động lòng thương nên hay xin mẹ cho bạc tiền hoặc cho quần áo. Người
ở trong xóm ai thấy tánh tình nó như vậy cũng đều ngợi khen, duy một mình người
viết truyện nầy đã không khen mà lại buồn, là vì thầm nghĩ thằng Nhã nầy nhờ có
làm thằng Ðược trót mười lăm năm trời nên ngày nay mới biết thương con nhà
nghèo như vậy, còn biết bao nhiêu thằng Nhã khác không có làm thằng Ðược nên
chưa nếm đủ nùi cay đắng trong đời, thì ai nghèo mặc ai, mình giàu mình hưởng.
Nếu thằng Nhã là con của bà Hội đồng Nhàn mà không có làm thằng Ðược, thì ngày
nay nó có biết thương con nhà nghèo haykhông?
Ai dám chắc.
Sài Gòn, 1923
---Hết---
Nhận xét
Đăng nhận xét